Chương 1: Khái quát về nhãn hiệu và hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu Chương 2: Thực trạng pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam về hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu Chương 3: Thực tiễn hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu và một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. CHUONG 1: KHAI QUAT VE NHAN HIEU VA HUY BO HIEU LUC GIAY CHUNG NHAN DANG KY NHAN HIEU 1.1 KHAI QUAT CHUNG VE NHAN HIEU 1.1 Khái niệm và điều kiện bảo hộ nhãn hiệu Cùng với sự phát triển mãnh mẽ của nền sản xuất công nghiệp và giao lưu thương mại toàn cầu, nhãn hiệu đã dần trở thành một tài sản vô hình có giá tri và là đối tượng điều chỉnh của nhiều Điều ước quốc tế (DUQT) song phương va đa phương như Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Thỏa ước Madrid năm 1891 về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa. Các DUQT này về cơ bản đã điều chỉnh khá đầy đủ các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu như quy định các nguyên tắc, thiết lập cơ chế dang ký, bảo hộ nhãn hiệu trên phạm vi quốc tế nhưng chưa đưa ra một khái niệm về nhãn hiệu. Hiệp định TRIPs là hiệp định đầu tiên có quy định khái niệm cũng như đặc điểm của nhãn hiệu một cách khái quát, toàn diện và mang tính quy chuẩn.
Cụ thé, Khoản 1 Điều 15b Hiệp định TRIPs có quy định: “Bat kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phán biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dich vụ cua các doanh nghiệp khác, déu có thé là nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kế cả tên riêng, các chữ cải, chữ sỐ, các yếu tô hình họa và tổ hợp màu sắc cũng như t6 hợp bat kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu. Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng, các thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tinh phán biệt đạt được xác định thông qua qua trình sử dụng. Các thành viên có thể quy định rằng điêu kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được `.
Như vậy, theo Hiệp định TRIPs, việc xác định một dấu hiệu bất kỳ có thể đăng ký làm nhãn hiệu hay không sẽ căn cứ vào mục đích sử dụng và tính phân biệt của các dau hiệu đó. Đây cũng là cách tiếp cận khá phố biến của nhiều quốc gia khi đưa ra định nghĩa nhãn hiệu trong pháp luật của mình, hình thành cách hiểu chung tương đối thong nhất về nhãn hiệu. Trên cơ sở các DUQT đã gia nhập va ký kết, pháp luật Việt Nam đã đưa ra khái niệm về nhãn hiệu hàng hóa tại Bộ luật dan sự (BLDS) năm 1995 như sau: “Nhãn hiệu hàng hoá là những dau hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hoá có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tô đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều mau sắc ”/ Nhu vậy, BLDS năm 1995 đã xác định nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu có khả năng phân biệt và chức năng của nhãn hiệu hàng hóa là dé phân biệt hang hóa, dịch vu cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau.
Tuy nhiên, khái niệm trên còn một số điểm chưa phù hop với thực tiễn cũng như với tinh thần của một số DUQT mà Việt Nam đã hoặc sẽ tham gia như: + Thứ nhất, khái niệm đề cập đến nhãn hiệu hàng hóa là tên gọi chung cho những dấu hiệu dé phân biệt cả hàng hóa và dịch vụ; + Thứ hai, khái niệm xác định chức năng của nhãn hiệu chỉ là để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại, tức là những “hàng hóa, dịch vụ có cùng bản chất (cấu tạo, thành phan, hình dáng.), có cùng chức năng (công dụng, mục dich sử dung) và có cùng phương thức thực hiện chức năng đó ” Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp nhãn hiệu vẫn có thê thực hiện chức năng phân biệt đối với hàng hóa, dịch vụ khác loại nhưng tương tự hoặc có liên quan đến nhau của các chủ thể khác nhau. Ngoài ra, đối với nhãn hiệu nổi tiếng, chức năng của nhãn hiệu không chỉ dừng lại để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại mà còn có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ khác loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau nếu việc sử dụng nhãn hiệu có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nôi tiếng hoặc nham lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nôi tiéng; ' Điều 785 BLDS 1995 ? Quy chế xét nghiệm nhãn hiệu hàng hóa số 191/QCXN ngày 06/04/1994 của Cục SHCN + Thứ ba, khái niệm quy định “nhdn hiệu hang hóa có thể là từ ngữ”, điều này dẫn đến cách hiểu dấu hiệu được thừa nhận là nhãn hiệu hàng hóa nếu là những tập hợp các chữ cái có thể ghép lại thành từ hoặc ngữ có nghĩa hoàn chỉnh. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại những nhãn hiệu không hoàn toàn là từ có nghĩa mà chỉ là những chữ cái hoặc chữ số được ghép lại với nhau như SONY, NOKIAỷ. Do đó, dé khắc phục và hoàn thiện quy định về nhãn hiệu hàng hóa, Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT) năm 2005 đã đưa ra khái niệm nhãn hiệu như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng dé phan biệt hang hóa, dịch vu cua các tô chức, cá nhân khác nhau ”Ý.
Đây là một khái niệm mang tính khái quát hơn so với quy định của BLDS năm 1995 cũng như phù hợp hơn với thực tiễn và quy định của các ĐƯQT, cụ thé: + Thứ nhất, khái niệm sử dụng thuật ngữ “nhãn hiệu” thay cho “nhãn hiệu hàng hóa” dùng dé chỉ những dấu hiệu phân biệt hàng hóa, dịch vụ. Điều này khiến việc sử dụng thuật ngữ “nhãn hiệu” chính xác hơn cũng như phù hợp hơn với các thuật ngữ được sử dụng cho các loại nhãn hiệu khác như “nhãn hiệu tập thé”, “nhãn hiệu liên kết”, “nhãn hiệu chứng nhận” và “nhãn hiệu nỗi tiếng”. + Thứ hai, khái niệm xác định chức năng của nhãn hiệu là để phân biệt hàng hóa, dịch vụ (có thể cùng loại hoặc khác loại) của các tổ chức, cá nhân khác nhau nhằm khắc phục hạn chế như đã phân tích ở trên đối với trường hợp nhãn hiệu nỗi tiếng hoặc nhãn hiệu sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ khác loại nhưng tương tự hoặc có liên quan chặt chẽ với nhau; + Thứ ba, khái niệm không đưa ra giới hạn chỉ những tập hợp các chữ cái có thể ghép lại thành từ hoặc ngữ có nghĩa hoàn chỉnh mới được đăng ký là nhãn hiệu. Như vậy, theo Luật SHTT năm 2005, các dau hiệu dùng dé phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau được coi là nhãn hiệu.
Tuy nhiên, dé được cơ quan nha nước có thâm quyền cho phép đăng ky và bảo hộ là nhãn hiệu, các dấu hiệu phải đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định, cụ thể là: 3 Th.S Vũ Thị Hải Yến, Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa trong BLDS, Tap chí Luật học số 3, năm 2003 * Khoản 16 Điều 4 Luật SHTT 2005 Thứ nhất: Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, ké cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thé hiện bang mot hoặc nhiều mau sic’. Thứ hai: Có khả nang phân biệt hang hóa, dịch vu cua chu sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khácŠ. Cụ thé, nhãn hiệu được coi là có kha năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thé dễ nhận biết, dé ghi nhớ và không thuộc các trường hợp bị coi là nhãn hiệu không có khả năng phân biệt quy định khoản 2 Điều 74 Luật SHTT”. Việc đánh giá khả năng phân biệt của một dấu hiệu được xem xét cụ thé tại Thông tư 01/2007/TT-BKHCN, sửa đổi, bố sung năm 2010, 2011 (Thông tư 01/2007/TT-BKHCN), theo đó mục 39 của Thông tư xác định các trường hợp dé đánh giá tính phân biệt của dấu hiệu theo các nhóm: dấu hiệu dạng chữ viết, chữ số (dau hiệu chữ), dau hiệu dang hình vẽ, hình ảnh (dau hiệu hình), dấu hiệu kết hop giữa dau hiệu chữ và dấu hiệu hình.
Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định rõ các trường hợp ngoại lệ được áp dụng khi đánh giá khả năng phân biệt của dấu hiệu chữ và dấu hiệu hình quy định tại các điểm a, c, đ khoản 2 Điều 74 Luật SHTT. Bên cạnh các quy định về tính tự phân biệt của dấu hiệu, pháp luật còn xem xét khả năng phân biệt của dấu hiệu khi đối chiếu với các dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu và các yếu tố khác như chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp của người khác được bảo hộ, tên thương mại đang được sử dụng nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhằm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hang hóa, dich vụ. Thứ ba: Không thuộc các trường hợp không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu quy định tại Điều 73 Luật SHTT và Mục 39 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN.2 Chức năng của nhãn hiệu > Khoản 1 Điều 72 Luật SHTT ° Khoản 2 Điều 72 Luật SHTT 7 Khoan 1 Điều 74 Luật SHTT Chức năng cơ bản của nhãn hiệu là chỉ dẫn nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ và phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tô chức, cá nhân khác nhau. Bên cạnh đó, nhãn hiệu còn có các chức năng khác như chức năng bảo đảm chất lượng và chức năng quảng cáo, tiếp thị.
- Chức năng thông tin nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ: Nhãn hiệu chứa đựng những thông tin giúp người tiêu dùng có thể nhận ra những sản phẩm, dịch vụ mà họ đã từng sử dụng hoặc đã được biết đến của nhà sản xuất, nhà cung cấp nào đó và họ hoàn toàn tin tưởng vào chất lượng, hiệu quả của hàng hóa, dịch vụ của những cơ sở kinh doanh đó.