CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE NGƯỜI BAO VE QUYEN VÀ LỢI ÍCH HOP PHAP CUA DUONG SU TRONG TO TUNG DAN SU 1.1 Khái niệm, đặc điểm va vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự 1.1 Khái niệm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Người bảo vệ quyên và lợi ich hợp pháp của đương sự trong TTDS là một khái niệm chuyên ngành nên trong từ điển tiếng Việt không có khái niệm này. Từ điển giải thích thuât ngữ luật học, có đưa ra khái niệm người bảo vệ quyên lợi ích của đương sự trong TTDS là “øgười tham gia tô tụng hỗ trợ đương sự bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp cua họ trước Tòa ám. ”” Tương tự định nghĩa nêu trên, khoản 1 Điều 75 BLTTDS năm 2015 cũng đưa ra khái niệm: “Người bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của đương sự là người tham gia tô tụng dé bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của đương sự. ” Tuy nhiên, các khái niệm này mới chỉ phản án vai trò của người bảo vệ quyền lợi của đương sự, chứ chưa nêu điều kiện, thủ tục để một người có thê trở thành người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS.
Dưới góc độ nghiên cứu, Giáo trình luật Tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, đưa ra khái niệm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS là “#øgười tham gia to tụng có đủ điều kiện do pháp luật quy định được đương sự yêu câu (nhờ) tham gia tô tụng dé bảo vệ quyên và lợi ich hợp pháp của họ ””. Có thé thay, khái niệm nay đã hoàn thiện hơn có với khái niệm trong Từ điển giải thích thuật ngữ luật học nêu trên và nêu được vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của đương sự phải đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Tờ điền giải thích thuật ngữ luật học (luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình, luật tô tung dan sự), Nxb Công an nhân dân, tr 210. Trường Dai học Luật Hà Nội (2017), Gido frình luật To tụng dan sự, Nxb Công an nhân dân, tr 123. Tuy nhiên, không phải cứ ai đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định được đương sự yêu cau (nhờ) đều có thé trở thành người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trong TTDS trước Tòa án mà người đó phải Tòa án công nhận tư cách tham gia tố tụng dưới một hình thức nhất định.
Đề làm rõ khái niệm người bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS cần làm rõ các khái niệm tố tụng dân sự, đương sự, bảo vệ, quyền và lợi ích hợp pháp. Trước hết cần tìm hiểu về thuật ngữ 6 tung dan sự. Khi tham gia vào các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng, các cá nhân, pháp nhân có quyền tự do xác lập, thực hiện, định đoạt các hành vi không vi phạm điều cam của pháp luật, không trái dao đức xã hội, không ảnh hưởng quyên và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước. Trong trường hợp cho rằng quyên, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm thì có nhiều phương thức dé bảo vệ các cá nhân, cơ quan, tô chức.
Một trong các phương thức đó là việc các cá nhân, cơ quan, tô chức làm đơn khởi kiện hoặc làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, yêu cầu dân sự. Khi Tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của các chủ thể thì quá trình giải quyết VVDS phát sinh, quá trình đó được gọi là tố tụng dân sự. Ở Việt Nam hiện nay, theo quy định của Luật Tổ chức TAND năm 2014 và BLTTDS năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật tố tụng hành chính năm 2015, Luật Phá sản năm 2014 thì thủ tục giải quyết các tranh chấp, yêu cầu, vi phạm phát sinh trong đời sông xã hội do Tòa án giải quyết được thực hiện theo các thủ tục tố tung hình sự, tố tụng hành chính, tố tụng dân sự và thủ tục phá sản. Trước khi BLTTDS năm 2004 ra đời, khi các tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động sẽ được Tòa án giải quyết theo các thủ tục tố tụng được quy định trong các Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động, từ đó tồn tại ba khái niệm: tố tụng dân sự, tô tụng kinh tế và tố tụng lao động.
Theo đó, tố tụng dân sự dùng dé chỉ thủ tục giải quyết các tranh chấp, yêu cầu từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình tại Tòa án. BLTTDS năm 2004 ra đời đã thống nhất ba loại thủ tục TTDS, tố tụng kinh tế, t6 tụng lao động thành thủ tục TTDS. Như vay, thủ tục TTDS là thủ tục giải quyết các VVDS phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa hẹp, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Quá trình TTDS bắt đầu từ thời điểm TA tiếp nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của các cá nhân, cơ quan tô chức nhưng kết thúc tại thời điểm nào là vấn đề còn có các quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, TTDS là trình tự, thủ tục được pháp luật quy định để giải quyết VVDS tại Tòa án. Quá trình tố tụng kết thúc khi bản án, quyết định dân sự của TA có hiệu lực pháp luật và không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thâm hoặc tái thâm. Hoạt động thi hành án dân sự không phải là hoạt động tố tụng dân sự vì công tác thi hành án dân sự do cơ quan thì hành án dân sự tô chức và chỉ nhằm thực hiện bản án, quyết định của Tòa án. Quan điểm khác lại cho rằng, tố tụng dân sự là trình tự, thủ tục được pháp luật quy định dé giai quyết VVDS tai TA va thi hành án dân sự.
Quan điểm thứ hai là quan điểm của Trường Dai học Luật Hà Nội, theo đó “/uat tô tụng dân sự., bao gom hé thong Cac quy phạm pháp luật diéu chỉnh các quan hệ phát sinh trong tô tụng dân sự để bảo 2 a7. A oA A x ° x r A 3 dam giải quyết vụ việc dan sự và thi hành an dân sự”. Tác giả luận van đông tình với quan điêm này, bởi mục đích của TTDS là việc bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tô chức và lợi ích của nhà nước khi quyên và lợi ích hợp pháp đó được thực thi trên thực tế. Theo đó, thi hành án là hoạt động tô tụng dân sự.
Như vậy, có thể hiểu tố tụng dân sự là trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để giải quyết các VVDS và thi hành án dân sự phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân va gia đình, kinh doanh thương mại va lao động. Tuy nhiên, dù thi hành án dân sự có được coi là một giai đoạn cua TTDS hay không thì trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người tham gia tô tụng dân sự trong giai đoạn giải quyết VVDS. 3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình luật Tố tụng dân sự, Nxb Công an nhân dân, tr 12. 10 Về khái niệm đương sự, Điều 68 BLTTDS 2015 không đưa ra khái niệm đương sự mà chỉ liệt kê những chủ thể được gọi là đương sự, “Đương sự trong vu án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên don, bị don, người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan.
Duong sự trong việc dân sự là cơ quan, tô chức, cd nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyên lợi, nghĩa vu liên quan.” Cháo trình luật Tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm: “đương sự trong vụ việc dan sự là người tham gia to tung dé bao vé quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bao vệ lợi ích công cộng, lợi ích cua Nha nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách đo có quyên và nghĩa vụ liên quan đến vụ việc 994 z A Ẫ z A ^ ` _` DN ` ~ Ũ z z dân sự. Có thê thây, do có tranh châp, yêu câu vê quyên và nghĩa vụ của các cá nhân, cơ quan, tô chức khi tham gia các quan hệ pháp luật dân sự mới dẫn đến Tòa án thụ lý VVDS và mới xuất hiện tư cách tố tụng của các chủ thể tham gia tố tụng, trong đó có đương sự. Như vậy, do liên quan đến quyên và nghĩa vụ dân sự trong VVDS mới là yếu tố căn ban dẫn đến một chủ thê trở thành đương sự trong TTDS. Do có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự nên việc tham gia tô tụng của họ có thể theo đơn kiện, yêu cầu của chính họ hoặc người tham gia tố tụng khác hoặc Tòa án.
Nhu vậy, theo tác giả đương sự trong vụ việc dan sự là người có quyên và nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự tham gia to tụng theo yêu câu của chính mình hoặc người khác hoặc Tòa án dé bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách. Về khái niệm bảo vệ được hiểu là “ding li lẽ để bênh vực, giữ vững ý kiến , quan điểm ” Về khái niệm quyền và lợi ích hợp pháp. Quyền là “khái niệm dùng dé chỉ những diéu mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân tổ chức dé theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn 4 Trường Dai học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình luật Tố tụng dân sự, Nxb Công an nhân dân, tr 107. ” Viện khoa học pháp lý Bộ tư pháp (2005),Từ điển Luật học, NXB từ điển bách khoa, tr 111.
II can, hạn chế”°.