CHƯƠNG 1 MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN CHUNG VE DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ PHÁP LUẬT VE LOGISTICS 1. Khái quát về dịch vụ Logistics 1.1 Lịch sử hình thành Logistics Lúc dau, Logistics ra đời và được áp dụng chủ yếu cho mục đích quân sự, hoàn toàn không mang lợi ích thương mai. Logistics được coi là một “điều kiện cần” trong chiến đấu, đó chính là việc vận chuyên và cung cấp lương thực, thực pham, trang thiết bị. đúng lúc, đúng nơi khi cần thiết cho lực lượng chiến đấu.
Từ đó, Logistics đã gián tiếp giúp quân đội các nước tham chiến đạt được những thành công. Trong thời kỳ Hy Lạp cô đại, dé chế Roman va Byzantine hùng mạnh, đã có những sỹ quan với tên gọi “logistikas” là người chịu trách nhiệm đến các van đề về tài chính cũng như cung cấp phân phối. Có thể xem đây là trong giai đoạn sơ khai của dịch vu Logistics. Ngày nay thuật ngữ "Logistics" đã được phát triển mở rộng và được hiểu với nghĩa là quản lý (management).
Nó diễn tả toàn bộ quá trình vận động của nguyên vật liệu và sản pham đi vào - qua và đi ra khỏi doanh nghiệp tới khâu phân phối tới tay người tiêu dùng. Từ sau thế chiến thứ nhất, lượng hàng hóa phục vụ cho sự khôi phục kinh tế sau chiến tranh không ngừng tăng cao. Điều này dẫn đến việc tồn đọng hàng hóa, gây ra cuộc khủng hoảng thừa (1929-1933). Không lâu sau, thế chiến thứ hai bùng n6 và kết thúc vào thánh 9 năm 1945, khi Nhật đầu hàng.
Lúc bay giờ, các nhà kinh tế lo ngại rằng lượng hàng hóa tăng nhanh sau chiến tranh sẽ gây ra cuộc khủng hoảng thừa, nên đã sử dụng dich vu Logistics như một biện pháp phòng ngừa. Thật vậy, Logistics bắt đầu được sử dụng trong kinh doanh từ những năm 1950. Điều này chủ yêu là do sự gia tăng hàng hóa cần lưu thông, từ đó tạo nên sức ép về việc cung cấp, vận chuyền trong một thế giới toàn cầu hóa, đòi hỏi phải có những nhà chuyên gia trong lĩnh vực này. Trước đây, hàng hóa được vận chuyền từ nước người bán đến nước của người mua phải qua tay nhiều người vận tải, qua nhiều phương thức vận chuyển khác nhau (tàu thủy, máy bay, tàu hỏa, ô tô,.), đồng thời phải thông qua các thủ tục thông quan khác nhau tùy theo quy định của mỗi nước; đối với từng người vận tải, hàng hóa lại được vận chuyên thông qua một hoặc một SỐ hợp đồng vận tải riêng biệt.
Do đó, các công đoạn trên phát sinh các rủi ro như: Thứ nhất, vì hàng hóa được vận chuyên thông qua hợp đồng cụ thể nên quyên và nghĩa vụ của mỗi nhà vận tải này đều khác nhau (về không gian, thời gian, địa điểm, trách nhiệm vận tải chỉ giới hạn trong chặng đường hay dịch vụ,. Tuy nhiên, các hợp đồng này lại diễn ra theo một trình tự thời gian, mà khi chuỗi hợp đồng này được thực hiện thì người chủ sở hữu khó có thể giám sát toàn bộ các giai đoạn. Do đó, thời điểm phát hiện rủi ro thường là lúc hàng hóa đã được mang đến nơi đến cuối cùng, nên rất khó xác định thời gian, địa điểm phát sinh thiệt hại dé có thể truy cứu, yêu cầu bồi thường. Thứ hai, dé vận chuyên hàng hóa đến được nước của người mua không thé tránh khỏi nhiều trường hợp phải thông qua nhiều nước khác nhau dẫn đến việc phát sinh các thủ tục thông quan kèm theo.
Từ đó, đòi hỏi người có trách nhiệm lo việc vận tải (tùy theo thỏa thuận mà có thé là người bán hoặc người mua) phải có một mức am hiểu nhất định về các thủ tục trên. Việc đòi hỏi này sẽ tạo nên rào cản trong việc mua bán hàng hóa giữa các nước có vị trí địa lý cách xa nhau, đặc biệt là giữa các châu lục với nhau. Xuât phát từ rủi ro trên, các nhà buôn cân một biện pháp có thê làm giảm rủi ro trong việc trao đôi hàng hóa giữa các nước với nhau. Vì vậy, yêu câu đặt ra là cần một người, hay một tô chức thực hiện mọi công việc ở tất cả các công đoạn dé tiết kiệm thời gian, tối thiểu hoá chỉ phí, từ đó nâng cao lợi nhuận.
Những người làm nghề này không chỉ là làm giao nhận mà còn làm cả các công việc về lưu kho, dan nhãn hiệu, đóng gói bao bì, thuê phương tiện vận chuyên, làm thủ tục hải quan và có thể mua giúp bảo hiểm cho chủ hàng nữa, người này gọi la Logistics Service Provider (Người cung cấp dich vụ tiếp vận). Qua đó cho thấy, sự vận dung dịch vu Logistics đã đánh dấu một bước tiến mới trong tiến trình lưu thông hàng hóa trên thé giới. Khái niệm về dịch vu Logistics Logistics có nguồn gốc từ hai chữ Logis và stic, có nghĩa là tính toán một cách "hợp lý". Như vậy nội dung của Logistics bao gồm việc hướng dẫn mọi người cách thức thực hiện công việc sao cho hợp lý nhất.
Từ “Logistics” được giải nghĩa bằng tiếng anh trong cuốn “Oxford Advances Learners Dictionary of Current English, A. Fifth Edition, Oxford University Press, 1995” như sau: "Logistics có nghĩa là việc tô chức cung ứng và dịch vụ đối với một hoạt động phức hợp nào đó”. Logistic gồm có 3 mảng chính là kho bãi, giao nhận va vận chuyển. Công việc cụ thé là quan lý hàng tồn, giao hang và nhận tiền theo don đặt hang, phân phối hàng đến các đại lý.
Công việc đòi hỏi phải lập kế hoạch tốt, có sự linh hoạt, nhạy bén về kinh doanh, điều phối tốt. Ngoài ra cần có một SỐ kỹ năng tổng quát như: ngoại ngữ, vi tính, kỹ năng tính toán và khả năng giao tiếp tốt. Mặt khác, Logistics bao gồm hai cấp độ. Cấp độ thứ nhất bao trùm các van dé lay nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, dich vụ ở đâu, như thé nao và vận chuyển đi đâu.
Cấp độ thứ hai quan tâm đến việc làm thé nào dé dua các yêu tô đâu vào từ diém đâu đên diém cuôi dây chuyên cung ứng. 10 Các công ty giao nhận kho vận trên thế giới nói chung, và ở các nước ASEAN nói riêng, ngày càng nhận thấy rang chi phi của các dịch vụ lập kế hoạch, sắp xếp và chuẩn bị mọi mặt cho hàng hoá dé sẵn sàng chuyên chở và chi phí vận tải đơn thuần có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau trên nhiều khía cạnh, theo một trình tự nhất định. Nếu biết tận dụng công nghệ tin học dé tổ chức tốt và chặt chẽ các khâu này, thì giá thành của hang hoá sẽ giảm đáng ké, do vậy năng lực cạnh tranh được nâng cao. Vi vay, Logistics không phải là một dich vụ đơn lẻ (do đó thuật ngữ này bao giờ cũng ở dang số nhiều: Logistics).
Thật vay, Logistics luôn luôn là một chuỗi các dịch vu về giao nhận hàng hoá như: làm các thủ tục giấy tờ, tô chức vận tải, bao bì đóng gói ghi nhãn hiệu, lưu kho lưu bãi, phân phát hàng hoá (nguyên liệu hoặc thành phẩm) tới các địa chỉ khác nhau, chuẩn bị cho hàng hoá luôn luôn sẵn sảng trong trạng thái có yêu cầu của khách hàng là có thể đáp ứng, bất kỳ lúc nào. Chính vì vậy, nói tới Logistics bao giờ người ta cũng nói tới một chuỗi hệ thống dịch vụ. Với hệ thống chuỗi dịch vụ này, người cung cấp dịch vụ Logistics sẽ giúp khách hàng có thể tiết kiệm được chi phí của đầu vào trong các khâu dịch chuyên, lưu kho, lưu bãi và phân phát hang hoá (nguyên liệu, bán thành pham, hoặc thành phẩm). Trên thé giới, dịch vu Logistics rất phát triển và đóng một vai trò quan trọng trong nền dịch vụ, thu hút một lượng lớn lực lượng lao động, gia tăng lợi nhuận cho các nhà cung cấp và thúc đây các ngành khác phát triển.
Vì vậy, khái niệm Logistics được đề cập bởi nhiều quốc gia, nhiều tổ chức khác nhau với nhiều khía cạnh : - Uy ban Quản lý Logistics của Hoa Ky: Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương an tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc đi chuyên và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành pham và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng 11 từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng dé đáp ứng yêu cầu của khách hàng. - Theo Hội đồng Quan tri Logistics Hoa ky (CLM)': Logistics là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu lực và hiệu quả hoạt động vận chuyên, lưu trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin có liên quan từ điểm đầu tiên đến điểm tiêu dùng cuối cùng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. - _ Trong lĩnh vực quân su, Logistics được định nghĩa là khoa học của việc lập kế hoạch và tiến hành di chuyên và tập trung các lực lượng,. các mặt trong chiến dịch quân sự liên quan tới việc thiết kế và phát triển, mua lại, lưu kho, di chuyền, phân phối, tập trung, sắp đặt và di chuyền khí tài, trang thiết bi.
Định nghĩa này được tạo ra do nguồn góc hình thành của Logistics. - Tai liệu giảng day của Dai hoc World Maritime’: Logistics la qua trinh tôi ưu hóa về vi trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/yếu t6 đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người buôn bán, bán lẻ, đến tay người tiêu dung cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt các hoạt động kinh té. - _ Luật Thuong mại Việt Nam nam 2005 (Điều 233): Trong Luật Thương mại 2005, lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics được pháp điển hóa. Luật quy định “Dịch vu logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tô chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyên, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hạng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng dé hưởng thù lao”.
Fundamentals of Logistics management. Logistics and Supply Chain Management. Tài liệu giảng dạy của World Maritime University 12 1. Đặc điểm của dịch vụ Logistics Với tính chất đa dạng và phức tap, Logistics mang các đặc điểm co bản sau: e Logistics có thé coi là tong hợp các hoạt động của doanh nghiệp trên các khía cạnh chính, gồm Logistics sinh ton; Logistics hoạt động va Logistics hé thong.
Logistics sinh ton là hoạt động đáp ứng các nhu cầu cơ ban, thiết yếu.