CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NHTM 1. Cơ sở lý luận về công tác kiểm soát nội bộ tại ngân hàng 1. Khái niệm về kiểm soát nội bộ, hệ thống kiểm soát nội bộ Trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay, với mức độ tăng trưởng ngày càng cao của nguồn vốn kinh doanh tại mỗi doanh nghiệp, những áp lực về suy thoái và những khó khăn nhiều chiều từ nền kinh tế đã tác động đến các doanh nghiệp, giúp họ quan tâm nhiều hơn đến Quản trị rủi ro và xây dựng hệ thống KSNB. Kiểm soát nội bộ (KSNB) dần trở thành một hệ thống lý luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA 315) ban hành theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 thay thế chuẩn mực 400 đã định nghĩa: “KSNB là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan. Thuật ngữ kiểm soát được hiểu là bất cứ khía cạnh nào của một hoặc nhiều thành phần của kiểm soát nội bộ.” Luật Kế toán 2015 cho rằng: “KSNB là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra”. Theo Thông tư số 13/2018/TT-NHNN ngày 18/05/2018 của NHNN Việt Nam quy định về hệ thống KSNB của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: “KSNB là việc kiểm tra, giám sát đối với các cá nhân, bộ phận trong việc thực hiện cơ chế, chính sách, quy định nội bộ, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, văn hóa kiểm soát nhằm kiểm soát xung đột lợi ích, kiểm soát rủi ro, đảm bảo hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đạt được các mục tiêu đề ra đồng thời tuân thủ quy định của pháp luật.” 11 Theo Thông tư số 06/2020/TT-NHNN ngày 30/06/2020 của NHNN quy định về KSNB, kiểm toán nội bộ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “ KSNB, kiểm toán nội bộ theo định hướng rủi ro là phương pháp kiểm soát, kiểm toán xuất phát từ việc xác định, đánh giá khả năng, mức độ rủi ro đối với từng hoạt động, nghiệp vụ, quy trình hoặc trong hoạt động của đơn vị để áp dụng hoặc triển khai các biện pháp kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ một cách hợp lý và hiệu quả”. Theo COSO năm 1992 -Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính: KSNB là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lí nhằm thực hiện mục tiêu: (i) Báo cáo tài chính đáng tin cậy; (ii) Các luật lệ và quy định được tuân thủ; (iii) Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.
Năm 2013, COSO đã phát hành Báo cáo KSNB - Khuôn khổ hợp nhất cập nhật với khái niệm KSNB được bổ sung. Theo đó, KSNB là một quá trình do người quản lý, HĐQT và các nhân viên khác của một tổ chức, nó được thiết lập để tạo ra sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu liên quan đến hoạt động, báo cáo và tuân thủ. Theo đó, các mục tiêu hoạt động, 20 mục tiêu tuân thủ cơ bản vẫn giữ nguyên như trước đây, nhưng mục tiêu báo cáo đã được mở rộng hơn, không chỉ đảm bảo độ tin cậy của BCTC mà còn liên quan đến độ tin cậy của các báo cáo phi tài chính và báo cáo nội bộ khác Có rất nhiều quan điểm về KSNB khác nhau do yêu cầu và góc độ nhìn nhận khác nhau. Tuy nhiên, quan điểm chung được thừa nhận rộng rãi nhất hiện nay thì KSNB là toàn bộ các chính sách, những quy định, các thủ tục kiểm soát, các bước công việc do lãnh đạo đơn vị xây dựng và áp dụng nhằm quản lý và điều hành hoạt động của đơn vị đạt kết quả.
Vai trò cơ bản của KSNB trong tổ chức bao gồm: - Hỗ trợ Ban lãnh đạo giảm thiểu bất an về những rủi ro, tổn thất có thể xảy ra nhất là về con người và tài sản; - Tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chế độ chính sách ban hành; 12 - Kịp thời phát hiện những vấn đề tồn đọng trong kinh doanh, từ đó đưa ra các biện pháp giải quyết nhằm giảm thiểu tổn thất và rủi ro có thể xảy ra; - Ngăn ngừa, phát hiện sai sót gian lận trong các bộ phận và trong hoạt động kinh doanh; - Đảm bảo các chế độ, nghiệp vụ ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác và đúng quy trình trong hoạt động kinh doanh; - Đảm bảo tài sản và thông tin không bị lạm dụng sử dụng sai mục đích; - Giúp Ban lãnh đạo doanh nghiệp giảm tải trọng những công việc, sự vụ hàng ngày và để chỉ tập trung vào vấn đề chiến lược; - Giúp Ban lãnh đạo doanh nghiệp chuyên nghiệp hoá công tác quản lý điều hành 1. Mục tiêu kiểm soát nội bộ tại NHTM Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành với các mục tiêu sau: - Mục tiêu hoạt động: Liên quan đến sự hữu hiệu, hiệu quả của hoạt động. - Mục tiêu thông tin: liên quan đến sự tin cậy của BCTC và báo cáo phi tài chính trong và ngoài nước cho các bên liên quan, hoặc các điều khoản, các tiêu chuẩn, các chính sách được thiết lập bởi các nhà quản lý. - Mục tiêu tuân thủ: Liên quan đến pháp luật và các quy định hiện hành đang được tuân thủ sự tuân thủ.
Các yếu tố cấu thành và nội dung KSNB tại NHTM theo COSO Định nghĩa COSO về kiểm soát nội bộ mở rộng cho tất cả các mục tiêu của một đơn vị từ báo cáo tài chính đến sự thành thạo, hiệu quả của các hoạt động và tuân thủ pháp luật và quy định hiện hành (COSO, 2013). Nó cũng giúp đảm bảo rằng thông tin báo cáo tài chính của ngân hàng là đáng tin cậy, tuân thủ luật pháp và quy định (COSO 2013). Mô hình KSNB theo khuôn mẫu COSO năm 2013 gồm 5 nhân tố và có 17 nguyên tắc. Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát bao gồm thái độ, nhận thức và hành động của quản lý và giám đốc, ban quản lý và những người chịu trách nhiệm quản trị liên quan đến nội bộ của đơn vị kiểm soát và tầm quan trọng của chúng trong thực thể (Gamage và cộng sự, 2014; Mary, Albert, & Byaruhanga, 2014).
Trong một nghiên cứu khác, Môi trường kiểm soát 13 đề cập đến tất cả các yếu tố có hiệu quả trong xác định, tăng hoặc giảm hiệu lực của các chính sách, thủ tục và phương pháp cụ thể cho một quy trình. Môi trường kiểm soát nổi bật với sự hiểu biết cơ bản được thông qua bởi quản lý cấp cao của công ty để kiểm soát tổ chức, thái độ của nó đối với vấn đề và cách tiếp cận để giải quyết vấn đề và quan điểm của họ về tầm quan trọng của đạo đức. Môi trường kiểm soát được đánh giá là tốt nếu các nguyên tắc sau đây được đảm bảo: Nguyên tắc 1: Đơn vị chứng tỏ cam kết về tính chính trực và giá trị đạo đức. Nguyên tắc 2: HĐQT chứng tỏ việc độc lập với ban quản lý và giám sát việc xây dựng, thực hiện biện pháp KSNB.
Nguyên tắc 3: Ban quản lý thiết lập cơ cấu, quy trình báo cáo và quyền hạn, trách nhiệm phù hợp trong khi theo đuổi mục tiêu dưới sự giám sát của HĐQT. Nguyên tắc 4: Đơn vị chứng tỏ cam kết đối với việc thu hút, phát triển, và giữ chân những người có năng lực phù hợp với mục tiêu. Nguyên tắc 5: Đơn vị yêu cầu cá nhân chịu trách nhiệm KSNB của mình khi theo đuổi mục tiêu. Đánh giá rủi ro Đánh giá rủi ro là một trong những thành phần của kiểm soát nội bộ.
Rủi ro đe dọa thành tích mục tiêu. Quy trình đánh giá rủi ro của ngân hàng là quy trình xác định và phản hồi rủi ro kinh doanh và kết quả của nó (Mary và cộng sự, 2014). Đánh giá rủi ro cũng được coi như là xác định các lỗi tiềm ẩn và thực hiện các thủ tục, chính sách và kiểm soát để phát hiện những lỗi đó đồng thời ngăn ngừa chúng. Đánh giá rủi ro cũng có thể là xác định và phân tích rủi ro liên quan đến việc đạt được các mục tiêu (Frazer, 2012).
Theo thứ tự đánh giá rủi ro là quá trình phát hiện, đánh giá và xác định làm thế nào để thành công những việc này. Cả rủi ro bên ngoài và bên trong đều có thể ngăn cản việc đạt được các mục tiêu đã thiết lập tại mọi cấp độ trong một tổ chức. Mọi ngân hàng đều phải đối mặt với một loạt các rủi ro từ bên trong và bên ngoài. Hoạt động đánh giá rủi ro của ngân hàng được đánh giá là tốt nếu các nguyên tắc sau đây được đảm bảo: Nguyên tắc 6: Đơn vị xác định mục tiêu đủ rõ ràng để cho phép xác định, đánh giá rủi ro liên quan đến mục tiêu.
14 Nguyên tắc 7: Đơn vị xác định rủi ro đối với việc đạt được mục tiêu trong toàn đơn vị và phân tích rủi ro làm cơ sở để xác định cách quản lý rủi ro. Nguyên tắc 8: Đơn vị xem xét khả năng xảy ra gian lận khi đánh giá rủi ro đối với việc đạt được mục tiêu. Nguyên tắc 9: Đơn vị xác định và đánh giá thay đổi có thể tác động đáng kể đến KSNB. Hoạt động kiểm soát Các hoạt động được kiểm soát, các thủ tục và chính sách đảm bảo cách các chỉ thị quản lý được thực thi, giúp đảm bảo rằng các hành động cần thiết được thực hiện để giải quyết các rủi ro liên quan đến việc đạt được các mục tiêu của đơn vị (Frazer, Năm 2012; Ndamenenu, 2011).
Hoạt động kiểm soát là các công cụ cả thủ công và tự động giúp ngăn ngừa hoặc giảm thiểu các rủi ro có thể cản trở việc hoàn thành các mục tiêu và nhiệm vụ của ngân hàng.