lời mở đầu, kết luận, danh mục các bảng biểu, biểu đồ và hình, khóa luận được chia ra làm ba chương bao gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về ngoại hối và chính sách dự trữ ngoại hối Chƣơng 2: Thực trạng chính sách dự trữ ngoại hối của Việt Nam thời gian vừa qua Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách dự trữ ngoại hối của Việt Nam thời gian tới Với những hiểu biết còn hạn chế cũng như giới hạn về mặt thời gian nên trong quá trình thực hiện chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự thông cảm, góp ý chân thành của thầy cô và các bạn có quan tâm đến vấn đề này để giúp cho bài viết được hoàn thiện hơn. Qua đó em cũng xin chân thành cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo trong trường vì những chỉ bảo, hướng dẫn trong suốt bốn năm đại học vừa qua và nhất là cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Quy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGOẠI HỐI VÀ CHÍNH SÁCH DỰ TRỮ NGOẠI HỐI 1. Tổng quan về dự trữ ngoại hối 1.
Khái niệm ngoại hối, dự trữ ngoại hối Ngoại hối (foreign exchange) là ngoại tệ và các phương tiện có giá trị dùng chi trả trong thanh toán quốc tế. Theo Pháp lệnh số 28/2005/PL-UBTVQH11, ngày 13/12/2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước CHXNCN Việt Nam, tại Điều 4, khoản 1 có quy định: Ngoại hối bao gồm: - Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ). - Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác. - Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác.
- Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. - Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế. Dự trữ ngoại hối là một quỹ dự trữ vô cùng quan trọng mà hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay đều phải duy trì và sử dụng. Trong Cẩm nang Cán cân Thanh toán Quốc tế, IMF định nghĩa: “Dự trữ ngoại hối là toàn bộ tài sản bằng ngoại hối sẵn sàng sử dụng để can thiệp, thể hiện trên bảng cân đối tiền tệ của Ngân hàng Trung ương”.
Theo Nghị định của Chính phủ số 86/1999/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 1999 về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước, tại Điều 1 có quy định: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Dự trữ ngoại hối nhà nước là tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước được thể hiện trong bảng cân đối tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước là cơ quan quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế, bảo toàn dự trữ ngoại hối Nhà nước. Theo Pháp lệnh số 28/2005/PL-UBTVQH11, ngày 13/12/2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước CHXNCN Việt Nam, tại Điều 4, khoản 19 có viết: “Dự trữ ngoại hối nhà nước là tài sản bằng ngoại hối thể hiện trong bảng cân đối tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.” Rõ ràng là khái niệm về dự trữ ngoại hối khá trùng khớp với nhau dù được trích dẫn theo nguồn nào. Hiện nay, quỹ dự trữ ngoại hối của Việt Nam được lập thành hai quỹ là quỹ dự trữ ngoại hối và quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng.
Các tiêu chí đánh giá quy mô dự trữ ngoại hối 1. Tỷ lệ dự trữ ngoại hối và giá trị nhập khẩu Theo định nghĩa IMF: “Tỷ lệ của dự trữ ngoại hối trên nhập khẩu được xem như là một đại diện cho tính dễ bị tổn thương của tài khoản vãng lai của một quốc gia”. Tỷ lệ này đo lường số các tháng mà một nước có thể tài trợ bằng tiền tệ cho nhập khẩu. Theo Fisher (2001), tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên nhập khẩu bằng 3 hoặc 4 thì được đánh giá là đủ.
Hay có thể hiểu theo cách khác là quy mô dự trữ ngoại hối được tính bằng số tuần nhập khẩu. Tiêu chí này đại diện cho mức độ hỗ trợ thanh toán quốc tế của dự trữ ngoại hối. Và theo như đánh giá của IMF, nếu mức dự trữ ngoại hối có quy mô tương đương 12 đến 14 tuần nhập khẩu thì mức này được xem là đủ. Tỷ lệ dự trữ ngoại hối và nợ ngắn hạn nước ngoài Tỷ số của dự trữ trên nợ nước ngoài ngắn hạn đo lường khả năng của một nước trong việc trả các khoản nợ nước ngoài vào những năm sắp tới, nếu những điều kiện tài trợ nước ngoài giảm đi một cách đột ngột.
(theo IMF định nghĩa) Nghĩa là dự trữ ngoại hối cho phép một quốc gia tồn tại một cách thoải mái trong điều kiện không có khoản vay mượn nước ngoài đến 1 năm. Theo quy tắc của Greenspan- Guidotti, phần tử số biểu thị một nước nắm giữ mức dự trữ thích LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 hợp để đối mặc với rủi ro rài chính, trong khi phần mẫu số cho thấy một tài khoản vốn vốn dễ bị tổn thương (Greenspan,1999 và BIS 2000). Nếu dự trữ ngoại hối vượt quá nợ ngắn hạn thì vào năm sắp đến một nước có thể đủ khả năng trả các món nợ nước ngoài tới hạn. Thêm vào đó, tiêu chí này cũng có thể cho thấy khả năng đối phó của quốc gia khi có hiện tượng tấn công ngoại tệ hoặc rút tiền ra nước ngoài.
Tỷ lệ dự trữ ngoại hối và mức cung tiền rộng WorldBank cho rằng: “Một chỉ báo thông thường được sử dụng là tỷ số của dự trữ ngoại hối trên mức cung tiền rộng (M2). Phạm vi thông thường cho tỷ số này là từ 5-20%”. Lý do căn bản cho tỷ số này là tiền rộng phản ánh rủi ro của một quốc gia khi rút tài sản từ nguồn trong nước vào dự trữ ngoại hối (Calvo, 1996; De Beaufort- Wijnholds and Kapteyn, 2001). Khi mà nhu cầu tiền không ổn định hay hệ thống tài chính yếu kém cho thấy một cơ hội lớn hơn cho việc đào thoát vốn.
Trong trường hợp này, tỷ số dự trữ trên mức cung tiền rộng là một chỉ tiêu thích hợp. Tỷ lệ thấp hay sụt giảm được xem như một cảnh báo sớm cho khủng hoảng tiền tệ. Tiêu chí này còn cho thấy khả năng can thiệp tỷ giá hối đoái của ngân hàng trung ương. Tỷ lệ từ 10% đến 20% được coi là đủ dự trữ ngoại hối.
Các tỷ số được trình bày ở đây chỉ có thể được dùng để đánh giá tính thích hợp của mức dự trữ ngoại hối tại một nước. Chúng không cung cấp một mức dự trữ ngoại hối tối ưu đối với đặc điểm của từng quốc gia. Do đó, cần có những quan sát và phương pháp nhất định để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối và từ đó xác định được mức dự trữ ngoại hối cần thiết cho quốc gia. Mục đích của dự trữ ngoại hối 1.
Điều tiết tỷ giá thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. NHTW sử dụng chính sách ngoại hối như một công cụ có hiệu lực để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, thông qua mua bán ngoại hối trên thị trường để can thiệp tỷ giá khi cần thiết nhằm ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền, tác động vào lượng tiền cung ứng. Bảo tồn quỹ dự trữ ngoại hối Nhà nước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Là cơ quan quản lý tài sản quốc gia, NHTW phải quản lý quỹ dự trữ ngoại hối Nhà nước nhưng không chỉ bảo quản và cất giữ mà còn biết sử dụng để phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế, luôn đảm bảo an toàn không bị ảnh hưởng rủi ro về tỷ giá ngoại tệ trên thị trường quốc tế.
Vì thế NHTW cần phải mua bán chuyển đổi để phát triển chống thất thoát, sói mòn quỹ dự trữ ngoại hối của Nhà nước, bảo vệ độc lập chủ quyền về tiền tệ. Cải thiện cán cân thanh toán Cán cân thanh toán quốc tế thể hiện quan hệ thu chi quốc tế của một nước với nước ngoài. Cán cân thanh toán phải phản ánh đầy đủ những xu hướng cung cầu về ngoại tệ trong các giao dịch quốc tế nên nó tác động lớn đến tỷ giá hối đoái của đồng tiền. Khi cán cân thanh toán quốc tế bội thu, lượng ngoại tệ chảy vào trong nước dẫn đến khả năng cung về ngoại tệ cao hơn nhu cầu, trường hợp này tỷ giá vận động theo xu hướng giảm.
Ngược lại khi cán cân thanh toán quốc tế bội chi, tăng lượng ngoại tệ chạy ra nước ngoài dẫn đến nhu cầu về ngoại tệ cao hơn khả năng cung ứng, trường hợp này tỷ giá vận động theo xu hướng tăng lên.Như vậy trong cả hai trường hợp nếu không có sự can thiệp của NHTW, tỷ giá sẽ tăng hoặc giảm theo cung cầu ngoại hối trên thị trường. Ở nhiều nước NHTW đóng vai trò điều tiết tỷ giá để thực hiện mực tiêu của chính sách kinh tế. Nếu NHTW muốn xác lập một tỷ giá ổn định nghĩa là giữ cho tỷ giá không tăng, không giảm, thì NHTW hoặc mua vào số ngoại tệ từ nước ngoài chuyển vào trong nước làm cho quỹ dự trữ ngoại hối tăng lên tương ứng, hoặc NHTW sẽ bán ngoại tệ ra để đáp ứng nhu cầu của thị trường khi có luồng ngoại tệ chảy ra nước ngoài, quỹ dự trữ ngoại hối giảm đi tương ứng. Chính sách dự trữ ngoại hối quốc gia 1.
Khái niệm về chính sách dự trữ ngoại hối 1. Khái niệm Chính sách DTNH là tổng hợp những thể chế về dự trữ ngoại hối và biện pháp có liên quan để quản lí và tác động đến lượng dự trữ ngoại hối cũng như các hoạt động ngoại hối của một quốc gia nhằm tạo sự cân đối, ổn định để thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển (theo IMF định nghĩa) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.