CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC XÚC TIẾN HỖN HỢP 1. Các khái niệm chung về Marketing [9], [10] 1. Các khái niệm chung 1.
Khái niệm Thị Trường theo quan điểm marketing [9, Tr.10] Thị trường bao gồm tất cả khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó. Thị trường có đặc điểm là mặc dù tham gia thị trường có cả người mua và người bán nhưng người làm Marketing lại coi người bán là người sản xuất cung ứng, người mua mới hợp thành thị trường. Nói cách khác, thị trường chính là tổng cầu về sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh. Doanh nghiệp nghiên cứu thị trường thực chất là nghiên cứu khách hàng của họ.
Khái niệm Nhu cầu [9, Tr.11] Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Nhu cầu của con người rất đa dạng và phức tạp nó bao gồm cả những nhu cầu sinh lý cơ bản về ăn , uống, mặc, sưởi ấm và an toàn tính mạng. lẫn những nhu cầu xã hội về sự thân thiết gần gũi uy tín và tình cảm gắn bó cũng như những nhu cầu cá nhân về tri thức và tự thể hiện mình. Khái niệm hàng hóa theo quan điểm Marketing[9, Tr.11] Hàng hóa theo quan điểm Marketing là tất cả những cái gì có thể thoả mãn mong muốn hay nhu cầu và được cung ứng cho thị trường nhằm mục đích thu hút sự chú ý mua sử dụng hay tiêu dùng.
Hàng hóa được phân loại thành hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình. Hàng hoá hữu hình là những sản phẩm có hình thù, kích thước với những đặc tính kỹ thuật, sản xuất ra để bán. Hàng hoá vô hình là những sản phẩm không có hình thù, kích thước với những đặc tính kỹ thuật. Ví dụ: hàng không, bưu điện, bảo hiểm.
Khái niệm chiến lược [7, Tr.6] Theo Alfred Chander: “Chiến lược là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của công ty, lựa chọn cách thức hoặc phương hướng hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó” Theo James B. Quinn: “Chiến lược là một dạng thức hoặc một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các trình tự hành động thành một tổng thể thống nhất” Theo William J. Glueck: “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện, và tính phối hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của công ty sẽ được thực hiện” 1.2 Khái niệm Marketing [9, Tr. 6] Theo định nghĩa của Hiệp hội Marketing Mỹ:" Marketing là việc tiến hành các hoạt động kinh tế điều khiển luồng hàng hoá và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng".
Theo Viện nghiên cứu Marketing Anh:" Marketing là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh, từ việc phát hiện ra và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự của một mặt hàng cụ thể đến việc đưa hàng hoá đó đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty thu được lợi nhuận dự kiến". Theo Philip Kotler:" Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi". Tóm lại, từ những khái niệm trên marketing là tập hợp các hoạt động của doanh nghiệp nhằm tìm hiểu nhu cầu của người tiêu dùng và thỏa mãn nhu cầu đó thông qua trao đổi.3 Khái niệm quản trị marketing [10, Tr. 109] Quản trị Marketing là việc phân tích, lập kế hoạch, thực hiện, kiểm tra việc thi hành những biện pháp nhằm thiết lập, duy trì và củng cố những cuộc trao đổi có lợi với những người mua đã được lựa chọn để đạt được nhiệm vụ đã 6 được xác định của tổ chức như mở rộng thị trường, tăng khối lượng bán, tăng lợi nhuận… Nội dung của quản trị Marketing gồm 3 nội dung: 1.
Hoạch định chiến lược Marketing. Thực hiện chiến lược Marketing. Kiểm tra các hoạt động Marketing. Hoạch định chiến lược Marketing dựa trên cơ sở chiến lược chung của toàn tổ chức.
Chiến lược Marketing vạch ra đường lối, mục tiêu chiến lược, kế hoạch marketing cụ thể của tổ chức cùng với các phương tiện và biện pháp để hoàn thành mục tiêu chiến lược. Thực hiện chiến lược Marketing là đưa kế hoạch chiến lược Marketing vào thực tiễn: ai làm, làm như thế nào, làm ở đâu, khi nào làm, cần có sự phối hợp như thế nào? Tổn phí là bao nhiêu? Kiểm tra hoạt động Marketing nhằm xác định những sai lệch giữa kế hoạch và thực hiện. Tìm ra nguyên nhân khẳng định tính chất của từng nguyên nhân, giúp cho việc ra quyết định chiến lược marketing có hiệu quả hơn. Chiến lược xúc tiến hỗn hợp [10, Tr.
Khái quát về xúc tiễn hỗn hợp Xúc tiến hỗn hợp hay truyền thông Marketing là các hoạt động truyền tin về sản phẩm và doanh nghiệp tới khách hang để thuyết phục họ thông qua các phương tiện khác nhau [8]. Thực chất của hoạt động xúc tiến hỗn hợp là việc sử dụng các phương tiện để truyền thông tin liên lạc với thị trường và khách hang mục tiêu nhằm thông báo cho biết về sự sẵn có của sản phẩm, thuyết phục họ sản phẩm này tốt hơn trên nhiều phương diện so với những sản phẩm cùng loại khác và nhắc họ mua them khi đã dùng hết các sản phẩm đã mua. Khi các nỗ lực của xúc tiễn hỗn hợp đã đạt được thì đồng nghĩa rằng thị phần của Công ty, số lượng hàng hóa tiêu thụ và doanh số bán sẽ được tăng lên. 7 Hoạt động xúc tiến hỗn hợp trong marketing là sự kết hợp tổng hợp các hoạt động sau [8]: - Quảng cáo - Khuyến mại - Bán hàng cá nhân - Tuyên truyền Toàn bộ các hoạt động xúc tiến trên phải được phối hợp để đạt tác dụng truyền thông tối đa tới người tiêu dùng.
Hiệu năng của các công cụ xúc tiến thay đổi tùy theo thị trường. Trong thị trường hàng tiêu dùng, quảng cáo được xem là công cụ quan trọng nhất. Trong thị trường hàng công nghiệp, vị trí quan trọng nhất thuộc về chào hàng và bán hàng cá nhân. Các hoạt động xúc tiến hỗn hợp chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của việc Công ty chọn chiến lược đẩy hay chiến lược kéo để tiêu thụ sản phẩm của mình.
Chiến lược đẩy đòi hỏi Công ty quảng cáo, khuyến mại tốt đối với giới buôn bán để đẩy sản phẩm đi qua các trung gian phân phối. Nhà sản xuất quản cáo sản phẩm một cách năng động đến các nhà bán sỉ, các nhà bán sỉ quản cáo năng động đến các nhà bán lẻ, các nhà bán lẻ quản cáo năng động đến người tiêu dùng để đẩy hàng hóa đến với họ. Chiến lược kéo đồi hỏi chi phí chiêu thị nhiều và hoạt động chiêu thị năng động đối với người tiêu dùng để tạo nên nhu cầu tiêu thụ. Nếu có hiệu quả người tiêu dùng sẽ hỏi mua sản phầm ở các nhà bán lẻ, các nhà bán lẻ sẽ hỏi mua ở các nhà bán sỉ, các nhà bán sỉ sẽ hỏi mua ở các nhà sản xuất.
Một số Công ty nhỏ sản xuất hàng kỹ nghệ chỉ sử dụng chiến lược đẩy. Một số Công ty chỉ dùng chiến lược kéo. Hầu hết các Công ty lớn sử dụng phối hợp giữa đẩy và kéo. Ví dụ hang Procter & Gamble quản cáo bằng phương tiện truyền thông đại chúng để lôi kéo khách hàng cho các sản phẩm của hang rồi sử dụng một lực lượng bán hàng lớn cũng như các cuộc cổ động thương mại để đẩy các sản phẩm đi qua các trung gian marketing.
Các bước chung của hoạt động xúc tiến hỗn hợp 1. Xác định người nhận tin – công chúng mục tiêu Người nhận tin chính là thị trường mục tiêu của Công ty, có thể là: khách hàng hiện tại, khách hàng tiềm ẩn, những người tham gia vào quyết định mua (4), công chúng mà Công ty muốn gây ảnh hưởng, gây thiện cảm [8]. Tầm quan trọng của việc xác định đối tượng nhận tin: - Chi phối tới phương thức hoạt động của quy trình truyền thống, quyết định tới hiệu quả của hoạt động truyền thông của doanh nghiệp. - Quyết định tới việc soạn thảo nội dung thông điệp, mã hóa, lựa chọn phương tiện truyền thông… ảnh hưởng tới việc nói với ai, nói cái gì, nói như thế nào, nói khi nào, nói ở đâu làm người truyền thông chỉ nên bắt tay vào thực hiện các chương trình truyền thông khi đã xác định được chính xác đối tượng mục tiêu.
Xác định trạng thái/ phản ứng của người nhận tin Sau khi đã xác định được đối tượng nhận tin bước tiếp theo cần xác định trạng thái hay mức độ nhận thức, mức độ yêu thức… của đối tượng đó đối với sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp đang ở mức độ nào. Thông qua việc hiểu biết trạng thái của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp, nhà quản trị mới có thể đưa ra được những phương án truyền thông tác động tới khách hàng một cách hiệu quả để có thể đạt được mục tiêu cuối cùng đó là: khách hàng đưa ra quyết định mua sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp. Trạng thái của khách hàng sẽ trải qua 6 cung bậc (6 trạng thái): Nhận biết/ biết → Hiểu → Thiện cảm → Ưa thích → Ý định mua → Hành động mua. Sau đây ta sẽ tìm hiểu từng trạng thái.
* Nhận biết/ biết: - Chủ thể truyền thông ban đầu phải xác định được mức độ nhận biết về sản phẩm của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp chào bán: Hoàn toàn chưa biết, chỉ biết tên gọi, có nghe nói về sản phẩm… tóm lại là khách hàng đã biết những gì về sản phẩm? 9 - Khách hàng không biết về sản phẩm hoặc chưa biết đầy đủ thì doanh nghiệp rất khó có cơ hội bán được hàng và lúc này nhiệm vụ của truyền thông là phải đưa ra các chương trình làm tăng thêm sự nhận biết của khách hàng về sản phẩm, về công ty thông qua: đưa những thông điệp đơn giản nhấn mạnh tới việc giới thiệu sản phẩm và truyền tải thông điệp với tần suất cao.