Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hỗ trợ phát triển HTX. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng công tác hỗ phát triển HTX của Liên minh HTX tỉnh Thái Nguyên. Chương 4: Giải pháp tăng cƣờng hỗ trợ phát triển HTX của Liên minh HTX tỉnh Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ 1. Cơ sở lý luận về hỗ trợ phát triển hợp tác xã 1. Những vấn đề chung về hợp tác xã 1. Khái niệm * Hợp tác xã là một t chức ph biến trên thế giới và đã phát triển ở hầu khắp các nƣớc trên thế giới.
Hợp tác xã đƣợc khởi nguồn và xuất phát từ mong muốn, ƣớc mơ về một xã hội dân chủ công bằng, một cuộc sống tốt đẹp hơn cho tất cả mọi ngƣời, nhất là những ngƣời yếu thế trong xã hội. T chức hợp tác xã tiếp tục phát triển và thể hiện đƣợc t nh tƣơng th ch của mình cho đến ngày này và cả trong tƣơng lai, bởi nó là một t chức dựa trên các giá trị tƣơng trợ, tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng, công bằng và đoàn kết. Cơ sở lý luận và phát triển hợp tác xã đã đƣợc hình thành cùng với quá trình phát triển hợp tác xã gần 300 năm qua trên thế giới. Tƣ tƣởng hợp tác xã và quá trình hình thành hợp tác xã gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp, sự hình thành chủ nghĩa tƣ bản và kinh tế thị trƣờng hiện đại mà Châu Âu, trƣớc hết là Anh, Pháp và Đức là cái nôi của nó.
Tiền thân là các HTX ở nƣớc Anh đƣợc thành lập vào năm 1761 do những ngƣời thợ dệt vải cùng nhau lập ra với tên gọi: “Hội làm vải cho tốt và bán giá trung bình trong làng xóm”. Năm 1769, tại làng Feujun ở Bắc Scotland, 12 thợ dệt đã hùn vốn t chức một HTX tiêu dùng đầu tiên buôn bán bột lúa mạch. Sau đó, hàng trăm HTX tiêu dùng đƣợc ra đời. Những HTX này thành lập trên cơ sở c phần của các thành viên thợ thủ công, công nhân và các công chức cấp thấp.
Họ thành lập HTX một cách tự nguyện nhằm mục đ ch bảo vệ ngƣời tiêu dùng trong t chức mình trƣớc nạn tăng giá, làm hàng giả của các nhà tƣ sản thƣơng mại. Trong thời gian này, các HTX đƣợc thành lập và đi vào hoạt động trên cơ sở ý thức tự nguyện của ngƣời dân, chƣa có pháp luật, chƣa có điều lệ HTX để ràng buộc các thành viên. Đến giữa thế kỷ XIX, vào năm 1844, vẫn ở nƣớc Anh, 28 thợ dệt trong làng Rochdale tiến hành thành lập HTX tiêu dùng gọi là “Hội của những ngƣời khởi đầu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 5 về sự công bằng ở Rochdale”. Những ngƣời này đã đƣa ra các nguyên tắc và điều lệ cơ bản cho hoạt động của HTX, gọi là “những nguyên tắc Rochdale”.
Về sau, Liên minh các HTX quốc tế (International Coopative Alliance - ICA) đƣợc thành lập vào ngày 19/8/1895 tại London với sự tham gia của 82 nƣớc, gần 700 triệu xã viên, đã đƣa vào phê chuẩn và sử dụng những nguyên tắc Rochdale cho hoạt động của mình tới ngày nay. Trong thời gian này, ở Đức cũng thành lập một loại hình kinh tế hợp tác gọi là “Hiệp hội nguyên liệu của những người thợ mộc và thợ giày ở Delitzach”. Liên tục trong thời gian đó, ở Pháp, Thụy Điển, Italia,… nhiều HTX thuộc các lĩnh vực kinh tế khác nhau đƣợc hình thành nhƣ: HTX chế biến nông sản thực phẩm do nông dân Thụy Điển và Pháp thành lập; HTX kinh doanh điện, điện thoại; HTX t n dụng; HTX xây dựng nhà đƣợc thành lập bởi những ngƣời lao động ở Đức… Ở nƣớc Nga, các HTX cũng đƣợc phát triển rất mạnh kể từ cuối thế kỷ XIX. Tại châu Á, các HTX đƣợc hình thành và phát triển kể từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Năm 1900, Luật HTX đƣợc ban hành ở Nhật Bản; năm 1904, Luật này đƣợc ban hành ở Ấn Độ thuộc Anh, đến nay những nội dung cơ bản của Luật này vẫn đƣợc sử dụng trong Luật HTX Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh và Mianma. Năm 1915, Luật HTX cũng đƣợc ban hành ở Thái Lan nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các HTX. Có thể nói đến nay, hình thức HTX đã trở thành rất ph biến trong các nền kinh tế kể cả các nền kinh tế phát triển và đang phát triển. Tuy hình thức t chức và tên gọi không giống nhau, nhƣng mục đ ch hoạt động của các t chức trên đều hƣớng vào giúp đỡ lẫn nhau, bỏ thói cạnh tranh, làm sao cho ai trồng đƣợc cây thì đƣợc ăn trái, ai muốn ăn trái thì phải trồng cây.[13] Sinh thời, Chủ tịch Hồ Ch Minh đã rất quan tâm đến phong trào hợp tác hóa.
Ngƣời đã có những bài phát biểu và tham luận về HTX. Ngƣời nhắc đến câu tục ngữ Việt Nam: “Nhóm lại thành giàu, chia nhau thành khó” và “Một cây làm chẳng nên non, nhiều cây hợp lại thành hòn núi cao” và khẳng định lý luận HTX đều ở những điều ấy. Nếu chúng ta đứng riêng ra, thì sức nhỏ mà làm không nên việc. Th dụ, mỗi ngƣời mang một cái cột, một tấm tranh ở riêng mỗi ngƣời một nơi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 6 thì lều chẳng ra lều, nhà chẳng ra nhà.
Nhóm những cột ấy, tranh ấy, sức ấy làm ra một cái nhà rộng rãi, thế rồi anh em ở chung với nhau, ấy là hợp tác. HTX là “góp gạo thổi cơm chung” cho khỏi hao của, tốn công mà lại có nhiều phần vui vẻ.[13] Ở nƣớc ta, đến đầu những năm 60, miền Bắc đã có trên 40.400 HTX theo quy mô thôn, xóm, thu hút 85,8% số hộ nông dân và 68,1% diện t ch đất canh tác. Mục tiêu cao cả của HTX lúc bấy giờ là huy động sức ngƣời, sức của cho giải phóng dân tộc thống nhất T quốc. Sau ngày giải phóng miền Nam (năm 1975), phong trào hợp tác hóa đƣợc lan rộng ra phạm vi cả nƣớc dƣới hình thức tập đoàn sản xuất, HTX trong các ngành, lĩnh vực kinh tế.
Tuy nhiên, HTX thời kỳ này đƣợc thành lập và hoạt động theo mô hình kiểu cũ. Trƣớc đ i mới, kinh tế HTX hoạt động theo Điều lệ HTX bậc thấp ban hành tháng 12/1954, sau đó hoạt động theo Điều lệ HTX bậc cao ban hành tháng 4/1969. Mặc dù trƣớc và sau khi đ i mới kinh tế HTX, mô hình mà nƣớc ta chủ trƣơng xây dựng đều có đặc điểm chung là do những ngƣời lao động tự nguyện liên kết với nhau, đều dựa trên sở hữu tập thể của những ngƣời lao động và là hình thức thấp của kinh tế XHCN, nhƣng xét về bản chất giữa chúng vẫn có những sự khác biệt. Từ năm 1986, nƣớc ta bƣớc vào công cuộc đ i mới.
Trong thời gian này, những nhận thức mới về HTX dần dần đƣợc hình thành làm cơ sở cho đ i mới phƣơng thức thành lập và hoạt động của các loại hình kinh tế HTX. Đại hội IX của Đảng (năm 2001) khẳng định mô hình kinh tế t ng quát của nƣớc ta trong thời kì quá độ lên CNXH là nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nƣớc cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tập thể dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi ngƣời lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, với kinh tế nhà nƣớc và các thành phần kinh tế khác, không giới hạn về qui mô, lĩnh vực và địa bàn hoạt động. Đến nay, theo luật Hợp tác xã số: 23/2012/QH13 ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2012 quy định tại Điều 3 khái niệm hợp tác xã nhƣ sau: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 7 nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã.
• Hợp tác xã là t chức mang t nh xã hội, rộng mở cho tất cả những ai có nguyện vọng trở thành thành viên hợp tác xã. Hợp tác xã ra đời dựa trên nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, công khai và đoàn kết. Mỗi thành viên có 1 phiếu bầu; • Mục tiêu hoạt động của hợp tác xã là mang lại lợi ch vật chất và tinh thần cho tất cả các thành viên, tập thể và cộng đồng; • Thành viên có trách nhiệm và nghĩa vụ tuân thủ, thực hiện tốt những quy định trong Điều lệ của hợp tác xã, hợp tác, xây dựng và phát triển hợp tác xã. Đặc điểm của HTX * Mô hình hợp tác xã qua các thời kỳ Hợp tác xã kiểu mới khác với hợp tác xã thời bao cấp (kiểu cũ) STT Hợp tác xã kiểu mới Hợp tác xã kiểu cũ - Là t chức kinh tế tập thế - Là t chức kinh tế, kiêm nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc - Thành viên vừa là chủ vừa là lao - Xã viên đồng thời là ngƣời lao động động, vừa là khách hàng 1.
Bản chất - Đối nhân - Đối nhân - Lợi ch chủ yếu thuộc về thành viên - Lợi ch chủ yếu thuộc về HTX, - Tự nguyện cộng đồng sau đó mới đến xã viên - Không hoàn toàn tự nguyện (hợp tác hóa theo mệnh lệnh) - Để đáp ứng các nhu cầu chung - Để tạo ra sản phẩm, dịch vụ theo chỉ 2. Mục tiêu của thành viên về kinh tế, văn hóa, đạo và kế hoạch của ch nh quyền xã hội. - Chủ yếu là thành viên - Nhƣ đơn vị của nhà nƣớc, làm theo - Thị trƣờng ch nh là các thành viên kế hoạch của ch nh quyền, nhà nƣớc. Đối tƣợng sau đó mới đến thị trƣờng bên ngoài cộng đồng thành viên 4.
Sở hữu - Tài sản t ch lũy đƣợc là sở hữu tập thể - Xã viên góp vốn, tài sản vào HTX và tài sản - Vốn góp của thành viên là sở hữu tƣ t ch lũy đều là sở hữu chung của HTX Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.