chương 1] Theo luật Mỹ : NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán. Còn theo Luật ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính của Việt Nam ban hành ngày 24/5/1990 thì: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Như vậy, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, thông qua nghiệp vụ huy động vốn để cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác. Thông qua các nghiệp vụ, NHTM đã chứng tỏ được sự cần thiết của hệ thống ngân hàng trong phát triển nền kinh tế thị trường, ngân hàng là đòn bảy của nền kinh tế.
SVTH: Đinh Thị Mai Phương Lớp: Ngân hàng 48A Chuyên đề tốt nghiệp 4 GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế Vai trò quan trọng của ngân hàng được hình thành từ hoạt động phong phú của mình. Các hoạt động của Ngân hàng thương mại có thể được phân chia thành một số hoạt động chính sau đây. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 1. Hoạt động huy động vốn.
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội. Vốn huy động bao gồm 2 loại chủ yếu là tiền gửi và nguồn huy động khác, bao gồm chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu [TS Tô Ngọc Hưng, Giáo trình nghiệp vụ kinh doanh hoạt động ngân hàng, NXB Tài chính]. Tiền gửi là nguồn tài nguyên quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của NHTM. Ngân hàng huy động tiền gửi thông qua việc cung cấp các loại hình tiền gửi khác nhau.
- Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi trong ngân hàng với mục đích tạo một nguồn tiền sẵn có cho mục đích thanh toán, chi trả thông qua hoạt động ngân hàng. Do đó không có thời hạn cụ thể và lãi suất thấp. - Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Nguồn tiền gửi này cũng có thể được rút ra bất cứ lúc nào, do đó cũng có lãi suất thấp. Tuy nhiên, không giống tiền gửi thanh toán, nguồn tiền gửi này không được dùng để thanh toán.
Do đó, lãi suất nguồn tiền này vẫn cao hơn tiền gửi thanh toán. - Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là nguồn tiền gửi mà người gửi chỉ được rút ra sau một khoảng thời gian nhất định đã được thỏa thuận ban đầu với mức lãi suất đã thỏa thuận. Nếu người gửi phá vỡ thỏa thuận bằng cách rút tiền trước hạn thì ngân hàng sẽ đưa ra hình phạt, cụ thể là lãi suất. Ngân hàng còn có thể huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn và trái phiếu dài hạn.
Hai loại phiếu nợ này được các ngân hàng phát hành theo từng đợt, tùy theo mục đích sử dụng của từng thời kỳ và được sự chấp nhận của Ngân hàng trung ương hoặc Hội đồng chứng khoán Quốc gia. Hoạt động tín dụng. Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng nói riêng và của các trung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất. Theo Giáo trình Nghiệp SVTH: Đinh Thị Mai Phương Lớp: Ngân hàng 48A Chuyên đề tốt nghiệp 5 GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế vụ kinh doanh ngân hàng, TS Tô Ngọc Hưng, Tín dụng là việc ngân hàng chuyển nhượng tạm thời một lượng vốn cho khách hàng trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian thỏa thuận.
Quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở lòng tin giữa ngân hàng và khách hàng. Hoạt động tín dụng về cơ bản được chia ra thành các loại sau: Theo thời gian, có 3 loại tín dụng: - Tín dụng ngắn hạn: Loại hình tín dụng này bao gồm các khoản vay có kỳ hạn dưới 1 năm, do đó hạn chế được rủi ro do thời hạn thu hồi và quay vòng vốn nhanh. - Tín dụng trung hạn: Tín dụng trung hạn thường có thời hạn từ 1 đến 5 năm, dùng cho các mục đích mua sắm tài sản cố định, đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các công trình nhờ có khả năng thu hồi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên 5 năm, được cấp cho các hoạt động xây dựng cơ bản, xây dựng mới, cải tiến mở rộng với quy mô lớn.
Loại tín dụng này có thời gian thu hồi vốn lâu, khả năng kiểm soát vốn bị hạn chế và tốc độ vòng quay vốn chậm. Nhìn chung, trong ba loại tín dụng này thì tỷ trọng tín dụng ngắn hạn ở ngân hàng thường cao hơn tín dụng trung và dài hạn. Đó là do các ngân hàng chủ yếu tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động của khách hàng. Ngoài ra, tín dụng trung và dài hạn thường có rủi ro cao hơn và chi phí của nó cũng đắt hơn.
Các ngân hàng phân loại theo thời gian để quản lý tốt hơn nhằm đảm bảo an toàn và sinh lợi. Theo hình thức tài trợ, tín dụng được chia thành cho vay, bảo lãnh, cho thuê, chiết khấu: - Cho vay là việc ngân hàng giao tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi trong thời gian xác định. Trong phần lớn các ngân hàng thương mại, cho vay luôn chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động tín dụng. - Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của mình trong trường hợp khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết.
Bảo lãnh có nhiều loại như: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh chất lượng, bảo lãnh thực hiện hợp đồng… SVTH: Đinh Thị Mai Phương Lớp: Ngân hàng 48A Chuyên đề tốt nghiệp 6 GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế - Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những thoả thuận nhất định. Có hai hình thức cho thuê là cho thuê nghiệp vụ và cho thuê tài chính. - Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn. Theo tài sản đảm bảo, tín dụng được chia thành tín dụng có tài sản đảm bảo và không có tài sản đảm bảo: - Tín dụng có tài sản đảm bảo là việc ngân hàng cho khách hàng vay vốn dựa trên cam kết người nhận tín dụng là sẽ dùng tài sản đảm bảo để trả nợ trong một số trường hợp.
- Tín dụng không có tài sản đảm bảo: là hình thức tín dụng có thể được cấp cho khách hàng có uy tín, thường làm ăn thường xuyên có lãi hoặc các khoản vay của các tổ chức lớn hay theo chỉ định của Chính phủ. Ngoài ra, tín dụng ngân hàng còn được phân loại theo ngành kinh tế, theo đối tượng tín dụng, theo mục đích sử dụng vốn. Việc phân loại tín dụng cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh lợi, gắn liền với những lĩnh vực tài trợ để có chính sách phù hợp. Hoạt động đầu tư tài chính.
Ngoài nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng, khoản mục được đánh giá là nguồn quan trọng thứ hai, có liên quan và hỗ trợ, bổ sung cho khả năng sinh lời của các nghiệp vụ cho vay là khoản mục chứng khoán. Ngân hàng tham gia vào thị trường chứng khoán dưới nhiều hình thức, thực hiện hoạt động đầu tư tài chính với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, nâng cao khả năng thanh toán và đa dạng hóa tài sản, hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Các NHTM tiến hành nghiệp vụ đầu tư tài chính dưới 2 hình thức cơ bản: đầu tư chứng khoán và liên doanh liên kết. - Nghiệp vụ đầu tư chứng khoán: Thị trường chứng khoán có rất nhiều chủ thể tham gia, trong đó NHTM với vai trò trung gian tài chính hoặc chủ thể phát hành đóng vai trò hết sức quan trọng.
Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ đầu tư chứng SVTH: Đinh Thị Mai Phương Lớp: Ngân hàng 48A Chuyên đề tốt nghiệp 7 GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế khoán với tư cách là một nhà đầu tư chuyên nghiệp, mua đi bán lại các chứng khoán để kiếm lời. NHTM thường đầu tư vào 2 loại chứng khoán chủ yếu có kỳ hạn dài là chứng khoán do chính phủ hay chính quyền địa phương phát hành và chứng khoán do các công ty, xí nghiệp phát hành. Chứng khoán do Nhà nước phát hành có lợi nhuận thấp, song hầu như không có rủi ro do Nhà nước luôn có nguồn đảm bảo khả năng thanh toán lớn nhất là thuế và quyền lực phát hành tiền. Trong khi đó, chứng khoán công ty có lợi nhuận cao hơn nhưng độ an toàn thấp hơn.
Các ngân hàng thường giữ chứng khoán công ty để hưởng thu nhập hằng năm. - Liên kết liên doanh: Trên thị trường tài chính, các ngân hàng còn thực hiện các mục tiêu chung của mình thông qua hình thức liên doanh liên kết vốn với các xí nghiệp, công ty. Với tư cách là thành viên hùn vốn, NHTM có thể đứng ra mua cổ phiếu của mình, từ đó trở thành thành viên sáng lập hay góp vốn kinh doanh, đồng thời có thể cử người vào ban quản trị công ty. Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ.
Ngoài các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống, trong môi trường cạnh tranh gay gắt, các NH luôn cố gắng mở rộng và ngày càng chú trọng vào các dịch vụ tiện ích nhằm thu hút khách hàng. Trong đó, dịch vụ thanh toán và ngân quỹ là những lĩnh vực dịch vụ ngày càng được các NH chú trọng cả về quy mô và số lượng, chất lượng. Dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung cấp nhanh gọn và an toàn. Ngân hàng đã không ngừng cải tiến và ngày càng đưa ra nhiều hình thức thanh toán thuận tiện cho khách hàng như séc, thư tín dụng, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thanh toán qua thẻ… Không chỉ ngừng lại ở việc cung cấp dịch vụ trong nước, ngày nay ngân hàng đã mở rộng liên kết với các ngân hàng nước ngoài để đáp ứng nhu cầu thanh toán nước ngoài của khách hàng với các phương tiện thanh toán đa dạng và tiện lợi.
Dịch vụ ngân quỹ cũng đang được các NH chú trọng phát triển.