Chương 1: Cơ Sở Lý Luận Và Rủi Ro Tín Dụng Trong Hoạt Động Kinh Doanh Ngân Hàng - Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự hiệu quả. Rủi ro trong hoạt động tín dụng là không thể tránh khỏi, các NH cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro. Sự hợp tác này sinh do nhu cần quản lý rủi ro đối với cùng một KH khi KH này vay tiền tại nhiều NH. Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một KH là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của.
Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều NH cùng cho vay một KH đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừa một NH nào. Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện nay, vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để các NH có các quyết định cho vay hợp lý. Đáng tiếc là hiện nay NH dữ liệu cho CIC chưa đầy đủ và thông tin còn quá đơn điệu, chưa được cập nhật và xử lý kịp thời.3 Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng thương mại Các chỉ số thường được sử dụng để đánh giá rủi ro tín dụng là: Tỷ lệ nợ quá hạn Dư nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = X 100% Tổng dư nợ cho vay Quy định hiện nay của NHNN cho phép dư nợ quá hạn của các NHTM không được vượt quá 5%, nghĩa là trong 100 đồng vốn NH bỏ ra cho vay thì nợ quá hạn tối đa chỉ được phép là 5 đồng. Nợ quá hạn (non performing loan – NPL) là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn.
Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ. Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các khoản nợ quá hạn trong hệ thống NHTM Việt Nam được phân loại theo thời gian và được phân chia theo thời hạn thành 4 nhóm: - Nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày - Nợ cần chú ý - Nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày - Nợ dưới tiêu chuẩn - Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày - Nợ nghi ngờ SVTH: Hồ Phương Thảo Page 13 Chương 1: Cơ Sở Lý Luận Và Rủi Ro Tín Dụng Trong Hoạt Động Kinh Doanh Ngân Hàng - Nợ quá hạn trên 360 ngày - Nợ có khả năng mất vốn Do việc phân loại chất lượng tín dụng được tính theo thời gian như vậy nên những khoản tín dụng ở Việt Nam tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Vì những khoản nợ đã quá hạn do KH không còn khả năng thanh toán, nhưng vì một lý do nào đó được NH gia hạn nợ thì khoản nợ trên sẽ trở thành nợ trong hạn và không được trích dự phòng, KH không được xếp vào diện cần theo dõi. Hoặc như khoản nợ còn trong hạn nhưng KH kinh doanh không hiệu quả, khả năng trả nợ mong manh nhưng vẫn chưa được xếp vào loại nợ xấu để tiến hành những biện pháp phòng ngừa (Theo quyết định số 493/2005/QĐ/NHNN5 của Thống đốc NHNN ngày 22/04/2005 ban hành quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng).
Tỷ trọng nợ xấu / Tổng dư nợ cho vay Nợ xấu: là những khoản nợ quá hạn 90 ngày mà không đòi được và không được tái cơ cấu. Tại Việt Nam, nợ xấu bao gồm những khoản nợ quá hạn có hoặc không thể thu hồi, nợ liên quan đến các vụ án chờ xử lý và những khoản nợ quá hạn không được Chính phủ xử lý rủi ro. Nợ xấu (hay các tên gọi khác của chúng như nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi, nợ không thể đòi,…) là khoản nợ mang các đặc trưng: - KH đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với NH khi các cam kết này đã hết hạn. - Tình hình tài chính của KH đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn và lãi.
- TSBD (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi. - Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày. Theo Quyết định 149/QĐ-TTg ngày 5/1/2001 thì nợ xấu có thể chia thành 3 nhóm: Nhóm 1: Nợ xấu có tài sản đảm bảo, gồm có: nợ tồn đọng NH đã thu giữ tài sản dưới hình thức gán, siết nợ; nợ tồn đọng NH chưa thu giữ tài sản như nợ có tài sản liên quan đến vụ án chờ xét xử, nợ có TSBD đã quá hạn trên 360 ngày. Nhóm 2: Nợ xấu không có tài sản đảm bảo và không có đối tượng để thu, gồm có: nợ xóa thiên tai chưa có nguồn và còn hạch toán nội bảng; nợ khoanh doanh SVTH: Hồ Phương Thảo Page 14 Chương 1: Cơ Sở Lý Luận Và Rủi Ro Tín Dụng Trong Hoạt Động Kinh Doanh Ngân Hàng nghiệp đã giải thể, phá sản; nợ khoanh doanh nghiệp thuộc các vụ án; nợ khoanh do thiên tai của hộ sản xuất,… Nhóm 3: Nợ xấu không có tài sản đảm bảo nhưng con nợ vẫn còn tồn tại, đang hoạt động, gồm có: nợ khoanh doanh nghiệp khó thu hồi; nợ tín dụng chính sách còn có khả năng thu hồi; nợ quá hạn trên 360 ngày.
Ngoài ra còn có nhóm nợ phát sinh sau ngày 31/12/2000, là những khoản nợ không thu được nhưng không đủ điều kiện để khoanh, xóa. Cũng từ cách phân loại nợ quá hạn theo thời gian như vậy nên phần lớn nợ quá hạn ở nước ta đều là nợ xấu. Các khoản nợ xấu tồn tại hiện nay tại các NHTM bao gồm: - Nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên. - Nợ liên quan đến các vụ án, nợ đã khởi kiện nhưng chưa thể thu hồi chờ xử lý, nợ có TSBĐ nhưng không hợp lệ.
- Những khoản nợ quá hạn, nợ trả thay không còn đối tượng để thu. Theo Quyết định 493/QĐ-NHNN, nợ xấu của TCTD bao gồm các nhóm nợ như sau: - Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi, bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 nợ gia hạn Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do KH không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng - Nhóm 4: Nợ nghi ngờ: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao, bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai - Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn: Các khoản nợ được TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn, bao gồm: SVTH: Hồ Phương Thảo Page 15 Chương 1: Cơ Sở Lý Luận Và Rủi Ro Tín Dụng Trong Hoạt Động Kinh Doanh Ngân Hàng Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2 quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ 2 Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 3 trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn Theo quy định hiện nay, tỷ lệ này phải nằm trong khoảng từ 3% đến 5%. Hệ số rủi ro tín dụng Tổng dư nợ cho vay Hệ số rủi ro tín dụng = X 100% Tổng tài sản có Hệ số này cho ta thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản có, khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn nhưng đồng thời rủi ro tín dụng cũng rất cao.
Thông thường, tổng dư nợ cho vay của NH được chia thành ba nhóm: - Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng xấu: Là những khoản cho vay có mức độ rủi ro lớn nhưng có thể mang lại thu nhập cao cho NH. Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của NH. - Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng tốt: Là những khoản cho vay có mức độ rủi ro thấp nhưng có thể mang lại thu nhập không cao cho NH. Đây cũng là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của NH.
- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng trung bình: Là những khoản cho vay có mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và thu nhập mang lại cho NH là vừa phải. Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng dư nợ cho vay của NH nên ta có công thức sau: Tổng dư nợ của các khoản cho vay có chất lượng trung bình Hệ số rủi ro tín dụng = X 100% Tổng tài sản có SVTH: Hồ Phương Thảo Page 16 Chương 1: Cơ Sở Lý Luận Và Rủi Ro Tín Dụng Trong Hoạt Động Kinh Doanh Ngân Hàng Tỷ lệ xóa nợ Các khoản xoá nợ ròng Hệ số rủi ro tín dụng = X 100% Tổng dư nợ cho vay Tỷ số giữa dự phòng tổn thất tín dụng so với tổng dư nợ cho vay hay với tổng vốn chủ sở hữu Dự phòng tổn thất tín dụng Tỷ số giữa dự phòng tổn thất/tổng dự nợ = Tổng dư nợ cho vay 1.4 Biện pháp phòng ngừa và hạn chế 1.1 Sự cần thiết phải phòng ngừa rủi ro tín dụng 1.1 Đối với bản thân ngân hàng Khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ làm giảm lợi nhuận kinh doanh tức là thu nhập giảm. Thu nhập giảm làm cho việc mở rộng tín dụng sẽ gặp khó khăn.