CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG GIAO THÔNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.1 CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG 1.1 Vài nét về khu vực nghiên cứu 1.1 Vị trí địa lý: TP.HCM với tổng diện tích là 2,095 km², ở vị trí 10o10’-10o38’ Bắc và 106o02’-106o54’ Đông; nằm ở trung tâm Nam Bộ, Bắc giáp Bình Dương, tây Bắc giáp Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp Đông Nai, Đông Nam giáp Bà Rịa Vũng Tàu, tây và Tây Nam giáp Long An, Tiền Giang, Nam giáp biển Đông với chiều dài bờ Biển là 15km; là trung tâm kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học lớn nhất ở khu vực phía Nam. Đây cũng là một đầu mối giao thông lớn nhất cả nước, là cửa ngõ của thế giới với tất cả các loại hình vận tải: đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển và hàng không [14]. Hồ Chí Minh 1.2 Dân số: TP HCM là thành phố đông dân nhất của Việt Nam, gồm 19 quận (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, Phú Nhuận, Gò Vấp, Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân, Thủ Đức, Bình Thạnh), 5 huyện (Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè, Bình Chánh, Cần Giờ). Học viên: Hà Công Bình – Lớp Xây dựng đường ô tô và Thành phố K16 8 Luận án Thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và Thành phố Bảng 2.1 Dân số, mật độ dân số các quận, huyện thuộc TP.HCM Mật độ Phường – Diện tích Dân số Quận, huyện (người/km xã (km2) (người) 2 ) Cả thành phố 322 2.531 Quận nội thành 259 494 6.768 Quận Tân Bình 15 22 430.233 Quận Tân Phú 11 16 407.400 Học viên: Hà Công Bình – Lớp Xây dựng đường ô tô và Thành phố K16 9 Luận án Thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và Thành phố Mật độ Phường – Diện tích Dân số Quận, huyện (người/km xã (km2) (người) 2 ) Quận Bình Thạnh 20 21 470.642 Quận Phú Nhuận 15 5 175.897 Quận Thủ Đức 12 48 455.546 Quận Bình Tân 10 52 595.473 Huyện ngoại thành 63 1.244 835 Huyện Củ Chi 21 435 355.285 Huyện Bình Chánh 16 253 447.770 Huyện Nhà Bè 7 100 103.034 Huyện Cần Giờ 7 704 70.697 100 Nguồn: Cục thống kê TP.HCM [19] Sự phân bố dân cư ở TP.HCM không đồng đều, ngay cả các quận nội thành.
Trong khi các quận 3, 4, 5 hay 10, 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km², các quận 2, 9, 12 chỉ khoảng từ 2.000 người/km². Ở các huyện ngoại thành, mật độ dân số rất thấp, như Cần Giờ chưa tới 100 người/km². Dân số thành phố tăng nhanh là do dân nhập cư từ các tỉnh khác về đây học tập và làm việc. Điều này gây nhiều áp lực lên quá trình phát triển kinh tế xã hội của thành phố đặc biệt là hệ thống giao thông.Theo ước tính năm 2010, có hơn 2 triệu dân nhập cư và khách vãng lai đang sinh sống, học tập và làm việc tại TP.
Học viên: Hà Công Bình – Lớp Xây dựng đường ô tô và Thành phố K16 10 Luận án Thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và Thành phố 1.2 Thực trạng hệ thống giao thông Thành phố Hồ Chí Minh 1.1 Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ: 1.1 Thực trạng phát triển GTĐB trong những năm qua: Giai đoạn 1991-2000: chủ yếu cải tạo nâng cấp và chống xuống cấp hệ thống HTKT giao thông, từng bước chuyển từ thời kỳ sửa chữa cải tạo chống xuống cấp và nâng cấp sang thời kỳ phát triển. Tính đến hết năm 2000, tổng chiều dài đường bộ là 1.915km, với tổng diện tích mặt đường là 15. Mật độ đường bình quân toàn thành phố tuy đã đạt được cao hơn nhưng không nhiều so thời kỳ đầu và đạt khoảng là 0,91km/km². Do dân số tăng nhanh nên mật độ đường bình quân đầu người vẫn không tăng và chỉ đạt 0,36 km/1.
Giai đoạn 2001-2005: là giai đoạn tập trung đầu tư xây dựng phát triển hệ thống hạ tầng, hệ thống giao thông được quan tâm đầu tư với các dự án lớn được triển khai như Đại lộ Nguyễn Văn Linh, đường Trường Chinh, cầu Bình Triệu 2, đường Điện Biên Phủ, đường Hùng Vương nối dài, cầu đường Nguyễn Hữu Cảnh, đường Cộng Hòa … chiều dài đường bộ đạt 3.038km với diện tích mặt đường là 23.932m², với tốc độ tăng bình quân là 9,7%/năm. Mật độ đường bình quân toàn thành phố đã đạt 1,45km/km², nhưng mật độ đường bình quân đầu người tăng không đáng kể và chỉ đạt khoảng 0,49 km/1.000 dân, diện tích đất giao thông vẫn chỉ chiếm 4,2% diện tích đất đô thị. Giai đoạn 2006-2010: tình trạng quá tải của hạ tầng giao thông đô thị ngày càng diễn biến phức tạp. Nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn này là đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án giao thông, tập trung thực hiện các chương trình, công trình trọng điểm và công tác duy tu bảo dưỡng hệ thống giao thông hiện hữu, công tác chuẩn bị đầu tư các dự án mang tính chiến lược của ngành.
Nhiều công trình phát triển hạ tầng giao thông được chính quyền thành phố triển khai với khối lượng lớn và hoàn thành nhiều công trình được đưa vào khai thác sử dụng, phát huy được hiệu quả như đường Trường Chinh, cầu đường Nguyễn Văn Cừ, cầu Phú Mỹ, đường Nguyễn Văn Trỗi - Nam Kỳ Khởi Nghĩa, cầu Tân Thuận 2, cầu ông Lãnh, cầu Kênh Tẻ, đường Bắc Nam (đường Nguyễn Hữu Thọ), đường Rừng Sác, cầu Phú Mỹ. Hiện thành phố đang tiếp tục tập trung đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện các công trình giao thông trọng điểm, trong đó có nhiều công trình quan trọng, quy mô lớn và tính chất kỹ thuật phức tạp như Đại lộ Đông - Tây và hầm Thủ Thiêm, đường Tân Sơn Nhất - Bình Lợi - vành đai ngoài,. Đặc biệt là đã triển khai công tác chuẩn bị đầu tư các dự án xây dựng hệ thống đường sắt đô thị Học viên: Hà Công Bình – Lớp Xây dựng đường ô tô và Thành phố K16 11 Luận án Thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và Thành phố khối lượng lớn như các tuyến metro, monorail, trainway nhằm giảm bớt áp lực giao thông khu vực nội đô như tuyến metro số 1, 2. Tuy nhiên, tốc độ tăng của chiều dài đường giai đoạn 2006 -2010 lại giảm nhiều so với giai đoạn trước và chỉ đạt bình quân gần 4,3% và diện tích đường thì tăng không đáng kể chỉ đạt 1,6%/năm [4].
Tình hình phát triển mạng lưới đường bộ thành phố Đường bộ qua các năm Tốc độ tăng (%) Chỉ tiêu 2006 2000 2000- 2000 2005 2010 - - 2005 2010 2010 Chiều dài 1.688,4 11,7 4,3 9,25 đường (km) Mật độ đường 0,91 1,45 1,76 Đườn (km/km2) g Diện tích 15.000 10,7 3,80 8,3 đường (m2) Mật độ (km/1000dân 0,365 0,487 0,50 ) Nguồn: Sở GTVT TP.2 Nguồn vốn để đầu tư: Nguồn vốn để duy trì và phát triển HTKT thuộc lĩnh vực giao thông vận tải tại thành phố được cấp từ 03 nguồn chính yếu là: vốn ngân sách thành phố, vốn ODA và vốn khác của các tổ chức kinh tế (nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác). Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện các công trình thuộc lĩnh vực giao thông vận tải trong nhiều năm qua nhìn chung vẫn còn chậm so tiến độ. Nguyên nhân chính vẫn là nguồn tài chính Học viên: Hà Công Bình – Lớp Xây dựng đường ô tô và Thành phố K16 12 Luận án Thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và Thành phố còn hạn hẹp không đủ để đáp ứng đồng bộ và kịp thời cho công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, việc thi công kéo dài cùng với tốc độ trượt giá nhanh cũng là nguyên nhân làm cho các dự án đều phải điều chỉnh lại tổng mức đầu tư (theo số liệu thống kê, giai đoạn 2006-2010 thành phố cần 160.000 tỷ đồng đẩ đầu tư xây dựng, tuy nhiên các nguồn vốn huy động chỉ đạt được 41.240 tỷ đồng, đáp ứng 25,8% nhu cầu [4]). Bên cạnh đó, chính sách pháp luật thường xuyên thay đổi; những quy hoạch có liên quan như quy hoạch không gian ngầm, quy hoạch sử dụng đất còn thiếu và nhiều bất cập cũng ảnh hướng đến tiến độ hoàn thành các công trình theo quy hoạch.
Nguồn vốn đầu tư cho GTVT giữa thực tế và nhu cầu Tóm lại, mạng lưới cầu đường bộ TP.HCM trong 20 năm qua đã được cải thiện đáng kể, nhiều công trình lớn được đưa vào khai thác sử dụng đã phần nào cải thiện tình hình giao thông đô thị, tuy nhiên do nguồn vốn còn hạn chế nên tốc độ phát triển khá chậm, chiều dài đường chỉ tăng bình quân 0,925%/năm, chủ yếu là số km đường tăng thêm ở các quận, huyện mới, còn các quận khu vực trung tâm thì không thể phát triển thêm, hệ thống các đường vành đai chưa khép kín, hệ thống đường trục chính đô thị vẫn chưa được mở rộng hoàn chỉnh, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.3 Hệ thống giao thông đường bộ: Hiện trạng: Tính đến hết năm 2010, TP.HCM có tổng chiều dài đường giao thông là 3.688 km (không kể những tuyến đường quá nhỏ và hệ thống đường hẻm), diện tích mặt đường là 27,6 triệu m²; mật độ đường giao thông so với diện tích thành phố chỉ mới đạt 1,76km/km², mật độ 0,5km/1000 dân, tập trung chủ Học viên: Hà Công Bình – Lớp Xây dựng đường ô tô và Thành phố K16 13 Luận án Thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và Thành phố yếu ở các quận nội thành như quận 1, 3 và quận 5 với mật độ từ 9,4 - 13,6km/km- ², diện tích đất dành cho giao thông trên diện tích đất đô thị đạt khoảng 17,4- 21,4% song cũng chỉ đạt 0,31km/1000 dân do mật độ dân số quá cao; Ở các quận cũ khác như quận 4, quận 6, quận 8, quận 10, quận 11, quận Bình Thạnh, quận Phú Nhuận, quận Tân Bình diện tích đất dành cho giao thông trên diện tích đất đô thị chỉ đạt khoảng 5,2-15,0% và 0,24 km/1000 dân là quá thấp; trong khi đó ở các huyện ngoại thành thì mật độ đường chỉ đạt từ 1,15 - 2,76km/km². Ở các quận mới như quận 2, quận 7, quận 9, quận 12 và các huyện ngoại thành diện tích đất dành cho giao thông còn thấp hơn nữa chỉ chiếm khoảng 0,2-3,1% và 0,84 km/1000 dân [4]. Toàn thành phố có trên 4.306 nút giao thông chủ yếu giao cắt cùng mức, chỉ có 16 giao lộ giao cắt khác mức, có 150 nút quan trọng thuộc 85 đường phố chính và các trục giao thông đối ngoại; tuy nhiên chỉ có 628 giao lộ có đèn điều khiển giao thông. Một số chỉ tiêu về giao thông TP.HCM qua các năm [4] Năm Dài đường (km) km/km² km/1000 dân 2005 3.