CHƯƠNG 1. Tổng quan sạt lở bờ sông trên thế giới, Việt Nam và khu vực nghiên cứu 1. Tổng quan sạt lở bờ sông trên thế giới, Việt Nam Sạt lở bờ sông hiện đã trở thành một hiện tượng phổ biến, đã và đang là mối nguy hiểm cho đời sống của con người ở nhiều nước trên thế giới. Mỗi năm có hàng triệu người bị ảnh hưởng bởi sạt lở bờ sông làm phá hủy tài nguyên như đất nông nghiệp, nhà cửa, đường xá, cây trồng và sinh mạng con người.
Tác động của sạt lở bờ sông không chỉ đối với cuộc sống con người mà còn đối với môi trường, kinh tế, y tế, giáo dục, giao thông, định cư,. Những nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, các nước ở khu vực Anpơ, Bắc Mỹ, Nam Mỹ là những nước thường xuyên xảy ra hiện tượng sạt lở bờ sông, diễn biến lòng dẫn nói riêng. Nhận thức được mối hiểm hoạ này, hầu hết các nước như Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc … đã tập trung nghiên cứu dự báo diễn biến sạt lở bờ sông, lòng dẫn đưa ra các giải pháp phòng chống, phòng tránh, giảm đến mức thấp nhất thiệt hại do chúng gây ra, mang lại hiệu quả thiết thực cho đời sống của con người. Ở Việt Nam, theo tài liệu tham khảo từ đề tài “Nghiên cứu dự báo diễn biến sạt lở, đề xuất các giải pháp để ổn định bờ sông và quy hoạch sử dụng vùng ven sông phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng hạ du hệ thống sông Đồng Nai” của P.
thì trong những năm gần đây, tình hình sạt lở bờ sông, bờ biển trên phạm vi cả nước đang có xu thế gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp gây ra những thiệt hại không nhỏ đến dân sinh, kinh tế. Theo con số thống kê, trên các lưu vực sông suối cả nước, hiện có trên 737 điểm sạt lở với tổng chiều dài trên 1257km. Trong đó, miền Bắc có 165 điểm với chiều dài 252 km, miền Trung có 307 điểm với chiều dài 555km và miền Nam có 265 điểm với chiều dài 450 km. Sông Đồng Nai là hệ thống sông lớn thứ 3 của Việt Nam, sau hệ thống sông Hồng - Thái Bình và sông Mê Kông.
Hệ thống sông Đồng Nai chảy qua địa phận hành chính của 11 tỉnh/thành phố là Lâm Đồng, Đắc Nông, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Long An, Bình Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh. Đây 6 là hệ thống sông có vai trò rất quan trọng trong cấp nước phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh miền Đông Nam bộ. Trong những năm gần đây, tình hình diễn biến sạt lở hệ thống sông Đồng Nai diễn ra theo chiều hướng khá phức tạp, hàng năm hai bên bờ sông bị lấn vào bờ khá lớn gây ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống và sinh hoạt của người dân và làm mất ổn định, sạt lở đối với các công trình ven sông gây thiệt hại nặng nề cho các hoạt động dân sinh kinh tế vùng ven sông như mất đất nông nghiệp, hư hỏng nhà cửa, chết người, điển hình là các xã Hóa An, Tân Hạnh, phường Bửu Hòa, Bửu Long có khoảng 900m đường bờ bị sạt lở; phường Hòa Bình và Quyết Thắng có khoảng 400m đường bờ bị sạt lở đều ở mức độ nhẹ, từ 0,5÷3,0m/năm (Đồng Nai)…, khu phố Ba Đình, phường Thái Hòa; Cù lao Rùa xã Thạnh Hội, thị xã Tân Uyên (Bình Dương). Tổng quan khu vực nghiên cứu 1.
Giới thiệu khu vực nghiên cứu Cù lao Rùa thuộc xã Thạnh Hội là địa danh, thuộc xã Thạnh Hội, thị xã Tân Uyên (Bình Dương) được bao bọc bởi dòng chảy chính của sông Đồng Nai và dòng chảy phụ tẻ nhánh bao trọn cù lao nhập vào dòng chính và chảy xuôi về Sài Gòn. Nhìn từ trên cao, vùng đất cù lao trông giống như một con Rùa nên được gọi là Cù lao Rùa. Cù lao Rùa là nơi có nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, xã hội và khảo cổ học, nơi đây đã phát hiện một di tích khảo cổ có niên đại 3.000 năm, là nơi mang nhiều dấu ấn của công cuộc mở mang bờ cõi về phía Nam của dân tộc. Khu khảo cổ đã được nhà nước công nhận là khu di tích khảo cổ cấp Quốc gia vào năm 2009.1 Bản đồ không ảnh Cù lao Rùa (Nguồn: https://yeubinhduong.com/cu-lao-rua- thanh-hoi-tan-uyen-bao-vat-3-000-nam-giua-menh-mong-song-nuoc/) 7 Cù lao Rùa được phân lạch với hai nhánh, nhánh sông chính bên trái giáp ranh với tỉnh Đồng Nai và nhánh sông phụ bên phải thuộc địa phận tỉnh Bình Dương.
Nhánh sông chính có chiều rộng 200÷400m, rộng nhất ngay tại vị trí cổ Cù lao Rùa. Cao trình đáy sông trung bình khoảng -10m và có xu hướng sâu dần về phía hạ lưu. Trên nhánh sông chính có 2 hố xói. Hố xói 1 cách đầu cù lao khoảng 350m có cao trình đáy sông -14m với chiều dài khoảng 750m.
Hố xói 2 ở cuối cù lao, tại khu vực nhập lưu với nhánh sông phụ và có cao độ đáy sông -16m ÷ -17m. Sau phân lưu với nhánh sông phụ, nhánh sông chính chảy dọc theo chiều dài cù lao. Đoạn này khá thẳng và có chiều dài khoảng 3,6km; đến cuối Cù lao thì dòng chính đổi hướng vuông góc sang phải với chiều dài khoảng 1,5km và hợp lưu với nhánh sông phụ. Nhánh sông phụ có chiều dài 6,3km, rộng 120÷220m.
Đoạn hẹp nhất ở vị trí cổ Rùa. Cao trình đáy sông trung bình khoảng -6m÷ -7m và có xu hướng sâu dần về hạ lưu, dòng sông uốn khúc liên tục. Nhánh sông phụ có 3 hố xói, hố xói 1 đối diện với cửa ra kênh Tổng Bản sát bờ Cù lao, cao độ đáy hố xói -9,0m, sâu nhất tại vị trí cuối hố khoảng -11m, dài khoảng 600m; hố xói 2 tại đỉnh cong uốn khúc tại cổ Cù lao, cao độ đáy hố xói khoảng -10m, chiều dài hố xói khoảng 400m; hố xói 3 ở giữa lòng sông tại hạ lưu cầu Thạnh Hội, dài khoảng 200m và cao độ đáy hố xói -12m. Theo khảo sát của N.
Dũng [2], toàn bộ Cù lao Rùa hiện nay có 7 đoạn đang xảy ra tình trạng sạt lở với mức độ khác nhau được giới thiệu trên Hình 1. Đoạn 1 tại cổ rùa bên nhánh sông chính. Đoạn này dài 500m, các vách sạt lở hình thành dọc bờ sông. Phần lớn bề mặt vách có dạng dốc đứng, góc dốc 80-90o.
Chiều cao vách đứng khoảng từ 2,0m đến 3. Đoạn 2 ở cuối Cù lao Rùa bên nhánh sông chính. Đoạn này dài 300m. Trên đoạn này có một số điểm sạt lở cục bộ với chiều dài khoảng từ 10-30m, phần lớn mái bờ sông có dạng dốc đứng, chiều cao vách đứng 2,5m đến 3,0m.
Tại vị trí sạt lở tại mỏm đuôi rùa đang được người dân xây dựng bờ kè với chiều dài 75m và 45m. Kết cấu kè bằng hệ cọc kết hợp tấm đan BTCT.2 Vị trí các đoạn sạt lở đất tại Cù lao Rùa Đoạn 3 ở cuối Cù lao Rùa bên nhánh sông phụ, đoạn này dài 350m. Toàn bộ đoạn này đang bị sạt lở. Phần lớn bề mặt vách có dạng dốc đứng (góc dốc 80-90o).
Chiều cao vách đứng khoảng từ 1,5m đến 2,5m. Đoạn 4 bên nhánh sông phụ, dài 750m. Trên đoạn này có một điểm sạt lở khá nghiêm trọng xen kẽ nhau. Phần lớn bề mặt vách có dạng dốc đứng (góc dốc 80-90o).
Chiều cao vách đứng khoảng từ 2,0m đến 3,0m. Trên đoạn này có 02 kè do dân tự xây dựng theo dạng tường đứng có tổng chiều dài khoảng 70m. Đoạn 5 dài khoảng 350m, sạt lở trên toàn bộ chiều dài. Phần lớn bề mặt vách có dạng dốc đứng (góc dốc 80-90o).
Chiều cao vách đứng khoảng từ 2,5m đến 3,0m. Đặc biệt có một số vị trí chiều cao vách đứng lên đến 3,5-4,0m. Đoạn 6 Đầu rùa (đối diện rạch Tổng Bản), 250m. Khoảng 100m đã được người dân gia cố bằng đá đổ.
Đoạn còn lại chưa được gia cố vẫn đang bị sạt lở. Đoạn 7 Đầu rùa (đối diện rạch Tổng Bản) Cách đoạn 6 khoảng 180m về phía thượng lưu 60m. Chiều sâu vào bờ khoảng 6m; Vách đứng cao khoảng 2,5m. Tổng chiều dài 7 điểm sạt lở khoảng 2,5km, trong đó đoạn hẹp nhất của Cù lao gọi là 9 "cổ rùa" bị xói lở rất nhiều bên phía dòng sông phụ, chiều rộng chỉ còn khoảng 85m, nếu xói lở tiếp tục đoạn "cổ rùa" chắc chắn sẽ bị "cắt", lúc đó sông lớn và sông con nhập lại và quá trình xói lở sẽ gia tăng hơn nữa.
Do đó, Luận án tập trung nghiên cứu sạt lở và đề xuất giải pháp cho vị trí sạt lở tại khu vực vực cổ Rùa bên nhánh sông phụ. Đặc điểm địa hình Theo kết quả khảo sát địa hình do N. Dũng thực hiện tháng 8/2017, Cù lao Rùa thuộc dạng địa hình đồng bằng khá bằng phẳng với cao độ trung bình (+2 ÷ +4) m, cao nhất là +17,5 tại Chùa Khánh Sơn. Địa hình có xu hướng dốc dần từ Đông sang Tây.
Đặc điểm địa chất a. Đặc điểm chung Trong khu vực sông Đồng Nai (đoạn từ Tân Uyên đến cầu Đồng Nai) uốn khúc phức tạp theo hướng Đông Bắc xuống phía Tây và vòng xuống Đông Nam; thung lũng sông có chiều rộng thay đổi từ 0,8km đến 6km chảy trong các phù xa cổ gồm các thành tạo trầm tích của đoạn sông Đồng Nai. Phù sa cổ gồm trầm tích Pleistocen giữa – muộn và trầm tích Pleistocen muộn, các phù xa cổ trong khu vực nghiên cứu thuộc hệ tầng Thủ Đức và Củ Chi phân bố tập trung ở tây bắc, nam và phía đông. Phù sa cổ phân bố ven sông Đồng Nai và phần lớn cũng chính là sườn vách và đáy của đoạn thung lũng sông Đồng Nai trong khu vực.
Ngoài ra, thung lũng sông Đồng Nai trong khu vực còn có sự hiện diện của nhiều cù lao hiện tại (Cù lao Bạch Đằng, Cù lao Rùa, Cù lao Phố). Các trầm tích Holocen phát triển trên mặt nền phù sa cổ trong thung lũng sông và có chiều rộng từ 0,8 đến 6km, gồm nhiều nguồn gốc: Nguồn gốc sông có các trầm tích: sông suối (aQ22-3), đê tự nhiên (aQ23), doi sông (aQ2) hiện nay, tại khu vực nghiên cứu ở các cù lao đang được hình thành và phát triển; nguồn gốc hỗn hợp có các trầm tích: đầm lầy – biển (abQ2), sông – đầm lầy của vết uốn khúc (abQ23). Trong đó, các trầm tích doi cát ven sông – cù lao sông được gộp chung là “trầm tích doi cát ven sông – cù lao sông không phân chia”. Đặc điểm địa chất công trình Theo kết quả nghiên cứu của N.
Dũng [2], đặc điểm địa chất tại khu vực nghiên cứu thấy rằng, bờ sông bao gồm các lớp 1, lớp 2a, 2b, lớp 2 và lớp 3.