Chương 1: Giới thiệu chung Chương 2: Tổng quan Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị 3 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHƯƠNG 2. KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA: 2.
Các khái niệm về bệnh nghề nghiệp: Khái niệm về Bệnh nghề nghiệp: Hiện tại, ngành xây dựng là một trong các ngành sử dụng nguồn lao động tương đối lớn và thuộc nhóm đầu trong tất cả các ngành về bị bệnh nghề nghiệp. Khi làm trong ngành xây dựng thì mọi người sống trong bụi bẩn, nóng ẩm, có thể là môi trường độc hại, gây không ít các bệnh đối với họ mà họ không nhận thức được việc quan trọng, nhất là ở nơi các khu vực mà trình độ y học chưa được phát triển kiến thức ý thức của người tham gia làm việc còn không tốt. Bệnh nghề nghiệp là bệnh sinh ra khi môi trường, không gian lao động,. có hại của công việc ảnh hưởng vào người tham gia sản xuất.
Bệnh biểu hiện cấp tính hoặc từ từ. Một vài bệnh mãn tính để lại ảnh hưởng lâu dài với người lao động. Các bệnh này tất nhiên hoàn toàn phòng tránh được. [42] Bệnh nghề nghiệp phổ biến trong ngành (Theo bộ Y tế): bụi phổi silic, viêm phế quản, bụi phổi amiăng, ghẻ, viêm kết mạc dị ứng, nhiễm độc TNT và bệnh lý về da.
Bộ Y tế quy định có 21 loại bệnh nghề nghiệp của tất cả các ngành nằm chia thành các nhóm [42]: - Nhiễm độc: tác động của chì, làm việc có tiếp xúc thuỷ ngân, sử dụng TNT, có chứa asen, dùng các loại thuốc trừ sâu, có chữa nicotin, nhiễm độc do mănggan. Nhiễm độc từ benzen, môi trường có các chất đồng đẳng của benzen. - Các yếu tố vật lý làm việc có nhiều ồn, môi trường rung, khu vực giảm áp, khu vực phóng xạ. - Bệnh về da như bị ghẻ, bị sạm, da bị tàng nhan, da bị loét.
- Nhiễm vi khuẩn như bệnh lao, vi khuẩn xoắn. bệnh viêm gan (B,.) - Các bệnh bụi phổi do silic, bụi phế quản do atbet, bụi phổi do bông. Chi tiết hoá về các loại bệnh nghề nghiệp có thể khái quát như sau: a. Với bệnh nhiễm độc do tác động từ chì: Nguyên nhân: Công việc tiếp xúc trực tiếp, gián tiếp với chì; hàn, mạ chì, gia công các dạng vật liệu chì, chế biến chì và các phế liệu có chì; sửa chữa thiết bị có 4 LUẬN VĂN THẠC SĨ chì, điều chế và sử dụng các chất có oxit chì, muối của chì, sử dụng sơn, men có công thức chì, tái chế chì cũ, phần việc đúc, dát mỏng chì, chế biến tetraethyl chì, sử dụng xăng pha chì.
Bệnh lý: Thận bị viêm, tăng huyết áp tư thế, hạ huyết áp tư thế; bệnh não vì nhiễm độc, tai biến mạch máu não, đau bụng, liệt cơ ngón tay ngón chân, đau xương đau khớp, viêm dây thần kinh mắt do nhiễm độc chì. Nhiễm độc do tiếp xúc với benzen Nguyên nhân: Công việc có tiếp xúc benzen và các đồng đẳng của benzene, khai thác benzen, chế biến dẫn xuất sử dụng benzen, chế biến benzen, sử dụng benzen để làm sạch các dạng mỡ bám lên vật liệu, cấu kiện, tinh luyện benzen. Điều chế hòa tan cao su bằng các dung môi. Trang trí nội, ngoại thất của ngôi nhà bằng cách pha chế vecni, batic, sơn, men.
Hoà tan nhựa thiên nhiên bằng cách dùng benzen, Benzen cũng dùng để pha sơn. Làm sạch nước trong rượu hoặc cồn. Bệnh lý: Bị co giật tai biến, tiêu hóa bị rối loạn nặng, bạch cầu trong máu bị giảm đáng kể, xuất huyết ban, bị chảy máu trong, thiếu máu dẫn đến thiểu năng, bị các bệnh về tuỷ , bệnh bạch cầu, bị suy tuỷ. Bệnh nhiễm độc do tiếp xúc với thủy ngân Nguyên nhân: làm việc có thuỷ ngân, thủy ngân được chưng cất; sản xuất nhiệt kế; sửa chữa nhiệt kế; công việc điện có sử dụng thủy ngân; dùng thủy ngân sản xuất axit axetic, axetol; sản xuất muối của thủy ngân; sử dụng chất tẩy da làm từ thủy ngân; thuỷ ngân được thu hồi; sự dụng trong khâu mạ vàng bạc; ngòi nổ có sử dụng thủy ngân; làm sứ, đồ gốm.
Bệnh lý: Bị phù não, các bệnh về não; bị run cố ý (tremblement intentionnel), mất điều hoà tiểu não (ataxie cérébelleuse); viêm thận; rối loạn tiêu hóa. Bệnh phổi silic Nguyên nhân: Các công việc trong khâu khai thác đá; sản xuất các loại đá; sản xuất chất cacborundum; sản xuất mài thuỷ tinh; sản xuất đồ gốm; khai thác cát; các bề mặt được làm sạch bằng cát. Các bệnh lý khi nhiễm độc khi tiếp silic: bụi phổi, xơ phổi ảnh hưởng đến tim mạch, các bệnh về phổi, dịch phổi bị tràn, lao. Bệnh bụi phổi nhiễm bụi amiăng Nguyên nhân: Công việc có tiếp xúc với bụi amiăng; khai thác mỏ đá có amiăng; Xử lý đá có chứa amiăng; công nghiệp sản xuất vải; sản xuất các bình cách nhiệt; súng bắn nhiệt có sử dụng amiăng; chế tạo xi măng amiăng; sản xuất gioăng bằng amiăng và cao su có thao tác khô với amiăng; sử dụng amiăng để chế tạo má của các loại phanh bằng cao su; trong công tác chế tạo bê tông.
Bệnh lý: Các bệnh lý về phổi, viêm phế quản, xơ phổi, rối loạn đường hô hấp, ung thư phổi, các bệnh lý tim, suy tim, nhồi máu cơ tim. Bệnh nhiễm độc do tiếp xúc mangan Nguyên nhân: Công việc làm việc có tiếp xúc với mangan; chế biến, gia công, ứng dụng bioxytmangan ( MnO2) cụ thể là trong việc chế tạo que hàn, pin điện; chế tạo thuỷ tinh, thuốc màu có sử dụng mangan; các công việc khai thác đóng gói ở lò luyện kim bioxytmangan. Bệnh lý do tiếp xúc mangan: triệu chứng run tay nhẹ (hội chứng thần kinh kiểu Parkinson), sau đó chuyển sang run tay nặng. Bệnh nghề nghiệp ảnh hưởng bởi tia X cũng như các tia phóng xạ.
Nguyên nhân: Công việc làm việc có tiếp xúc các dạng tia; quặng có chất phóng xạ được khai thác và chế biến; các chất phóng xạ được điều chế nhằm phục vụ y học; các chất phóng xạ có phát quang đã được điều chế và áp dụng; quang tuyến X trong phòng thí nghiệm và các chất phóng xạ được thí nghiệm; việc chế tạo các máy móc có chứa phóng xạ; làm việc tại các khu vực sử dụng chất phóng xạ khác như bệnh viện,. Bệnh lý khi tiếp xúc do các tia: Các dạng ảnh hưởng về mắt như: bệnh viêm giác mạc, bệnh viêm mí mắt, bệnh viêm màng mắt, bệnh đục thuỷ tinh thể; các dạng ảnh hưởng về da như: bệnh viêm da mãn tính, bệnh viêm da cấp; các ảnh hưởng về máu như: bệnh giảm bạch cầu của máu, thiếu máu lên não, bệnh giảm bạch cầu đa nhân của máu; bệnh sốt xuất huyết; các ảnh hưởng về phổi như hít phải bụi phóng xạ dẫn đến ung thư phổi; các ảnh hưởng về xương như hoại mục xương, hoại tử xương. Bệnh nghề nghiệp bị gây ra bởi tiếng ồn 6 LUẬN VĂN THẠC SĨ Nguyên nhân: Công việc làm việc có tiếng ồn; làm việc liên tục trong độ ồn trên 80 dB. Bệnh lý do ảnh hưởng của tiếng ồn: không thể nghe được, điếc nghề nghiệp, thính lực bị tổn hại nặng, tế bào nghe bị ảnh hưởng, rối loạn tiền đình, thính lực bị giảm nghiêm trọng.
Bệnh nghề nghiệp da Nguyên nhân: Làm việc có hại cho da; tiếp xúc với xi măng; tiếp xúc với vật liệu xây dựng gây kích ứng da; không mang đồ bảo hộ lao động lúc làm việc. Bệnh lý về da: Viêm da tiếp xúc, bị ghẻ loét, viêm da cơ địa, mẫn ngứa kích ứng da, ung thư da, nấm da. Bệnh nghề nghiệp bị gây ra bởi rung Nguyên nhân: Công việc làm việc có tiếp xúc các thiết bị rung; làm việc với vật gây rung như tời khoan, máy mài sử dụng thường xuyên các công cụ khoan và cắt; làm việc với các thiết bị, máy khoan đá, máy đầm; thao tác búa đập, máy dùi bê tông; làm việc thao tác với các máy nổ. Bệnh lý: Chấn thương tay, cổ tay do sử dụng thường xuyên các công cụ khoan và cắt; chấn thương khớp khuỷu, khớp cổ tay, khớp cổ chân; bệnh hoại tử xương, bệnh mục xương, rối loạn cơ xương khớp, bệnh Raynaud, rối loạn cảm giác ở các tay, nguy cơ về chấn thương tủy.
Từ các nguyên nhân và bệnh lý trên ta thấy được mức độc nguy hiểm của từng loại từng nhóm bệnh, tuy nhiên từ các nguyên nhân mà có thể đề xuất các phương pháp phòng tránh cho thích hợp. Điều ảnh hưởng quan trọng nhất chính là ý thức, thói quen, kiến thức và góc nhìn đối với mỗi người. Chỉ có sự hiểu biết và ý thức trong công việc mới giải quyết được gốc rễ của bệnh nghề nghiệp. Xác nhận nguyên nhân và bệnh lý là ảnh hưởng quan trọng, nhất là đối với những ngành nghề phải làm việc trong sự tác động của môi trường, không gian diễn ra công việc, nhận biết được các nguyên này chúng ta sẽ tránh được những nguy hiểm, tác hại của các bệnh gây nên.
Bên cạnh đó còn giữ gìn sức khỏe cho bản thân và gia đình của chúng ta khỏi những tác động có hại lâu dài, người lao động có ý tưởng, sáng kiến trong công việc, mang lại hiệu quả cao hơn và với mong muốn không còn thấy khái niệm "bệnh nghề 7 LUẬN VĂN THẠC SĨ nghiệp" trong tương lai, việc đó sẽ thành hiện thực nếu mỗi người chúng ta chung tay cùng thực hiện. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT: Qua tìm hiểu, thu thập phân tích các tài liệu, nhận thấy hầu hết là các bài báo nghiên cứu nước ngoài trong ngành xây dựng về bệnh nghề nghiệp. Gần như ít các nghiên cứu trong các bài báo ở trong nước về bệnh nghề nghiệp trong xây dựng và cụ thể hơn là trên địa bàn Việt Nam. Bảng 2 trình bày tóm lược các bài báo: Bảng 1.
Thống kê các bài báo, nghiên cứu STT Tên Sách Tác giả Tóm lược Nghiên cứu nước ngoài Để ước tính tỷ lệ và xu hướng “Incidence rates of trong tỷ lệ mắc bệnh nghề occupational nghiệp (OD) ở Hà Lan ngành diseases Van der Molen, xây dựng. Tuy nhiên ở đây 1 in the Dutch HenkF. phương pháp luận là sự không construction (2016). chắc chắn về cách xử lý dữ liệu sector” (2010– bị thiếu trong các phân tích hồi 2014) quy này.
Bệnh nghề nghiệp ở Hàn Quốc. Các triệu chứng bệnh tật do các mối nguy hiểm tại nơi làm việc “Occupational gây ra có thể phát triển qua Diseases of Kwon, Young Jun. nhiều năm sau khi ngừng tiếp 2 Construction (2010) xúc. Nó có thể không xuất hiện Industry” thậm chí sau mười năm.