MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Đối với tất cả các nước trên thế giới, nghèo luôn là vấn đề được xã hội quan tâm. Ở các nước phát triển, dù có mức sống cao song vẫn luôn tồn tại tình trạng phân hóa giàu nghèo. Còn ở những nước đang phát triển với thu nhập trung bình và thấp, trong đó bao gồm Việt Nam, thì một bộ phận không nhỏ dân cư vẫn sống ở mức nghèo khổ, đặc biệt còn có những người sống trong hoàn cảnh rất khó khăn vẫn phải chịu tình trạng thiếu đói, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, trong khi đây là nhu cầu thiết yếu của con người.
Mức độ nghèo cũng có sự chênh lệch khác nhau giữa các vùng miền trong cả nước do những đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội. Trong đó, nghèo ở các khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa trầm trọng hơn các khu vực miền xuôi. Tình trạng đó đã gây ảnh hưởng rất xấu tới chất lượng cuộc sống nhân dân vùng núi. Trong những năm gần đây, Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm, nhiều chủ trương chính sách tích cực giúp xóa đói giảm nghèo (XĐGN) cho vùng núi và đã đạt những kết quả nhất định.
Song trên thực tế, tình hình đói nghèo nơi đây vẫn còn khá nghiêm trọng bởi những chính sách này chưa thật sự hoàn thiện và phù hợp với tình hình địa phương, và do đó sự tác động của chúng tới việc khắc phục đói nghèo miền núi chưa thật sự hiệu quả. XĐGN cũng như chữa bệnh, điều cốt lõi là phải tìm ra được đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói? Trong đó, nguyên nhân nào là nguyên nhân chính? Từ đó đề ra được những giải pháp đúng dắn nhất, hiệu quả nhất nhằm giúp người dân xoá nghèo. Vĩnh Quang là một xã vùng sâu vùng xa, giao thông đi lại khó khăn, nằm ở phía Đông Bắc của hụyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng cách trung tâm huyện lị 28 km, có tổng diện tích tự nhiên là 5675,86 ha với diện tích đất nông nghiệp là 1156,59 ha chiếm 20,37% còn lại là các loại đất khác. Tổng số hộ trong xã là 880 hộ với 4928 nhân khẩu.
Trong đó gồm các dân tộc Tày, Nùng,Mông, Dao, Kinh [9]. Từ xa xưa, Vĩnh Quang là một địa bàn chủ yếu là n 2 đồng bào dân tộc Tày, Mông, Nùng, Dao sinh sống, mấy năm trước đây cuộc sống của người dân trong xã phần đa là du canh, du cư, sản xuất mang tính tự cung, tự cấp, không có cơ hội tiếp cận thông tin, cơ sở hạ tầng nghèo nàn. Nơi đây trình độ dân trí còn thấp, phong tục tập quán còn lạc hậu chủ yếu là phá nương làm rẫy và trồng lúa nước, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn nên ảnh hưởng tình hình phát triển chung của toàn xã. Năm 2013, toàn xã có 422 hộ nghèo chiếm 47,95%, 93 hộ cận nghèo chiếm 10,57% tổng số hộ trong xã [9].
Do vậy, XĐGN của xã Vĩnh Quang là một yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi địa phương cũng như Trung ương phải sớm tìm ra những giải pháp hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập tiến tới “thoát nghèo”. Xuất phát từ những lý do trên và qua quá trình học tập tại trường với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Tống Thị Thùy Dung tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp nhằm giảm nghèo cho người dân tại xã Vĩnh Quang, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng” đi vào nghiên cứu thực trạng nghèo ở xã Vĩnh Quang, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng thuộc khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam trong những năm gần đây như một ví dụ điển hình cho nghèo ở vùng núi nói chung, từ đó đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của các chính sách XĐGN cho vùng núi của Nhà nước để đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả, phát huy tác dụng của các chính sách có ý nghĩa thiết thực này. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung Nghiên cứu và đánh giá thực trạng giảm nghèo tại xã Vĩnh Quang để từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm từng bước đưa xã thoát nghèo một cách bền vững.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thực trạng nghèo ở xã Vĩnh Quang, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng. - Nghiên cứu những nguyên nhân và nhân tố chính gây nên nghèo trong xã Vĩnh Quang. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu giảm nghèo cho xã Vĩnh Quang trong những năm tiếp theo. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế. - Nghiên cứu đề tài là cơ sở cho sinh viên vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để sinh viên thấy được những kiến thức cơ bản cần bổ sung để phù hợp với thực tế công việc sau này. - Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên. Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế.
- Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vận dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học và là bàn đạp cho việc xuất phát những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này. Ý nghĩa thực tế - Từ kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp một phần vào bản báo cáo đánh giá thực trạng và giải pháp của nghèo trên địa bàn xã. Ngoài ra từ những phát hiện trong quá trình nghiên cứu, có thể cho địa phương nơi đây có một cái nhìn tổng thể cũng như chi tiết hơn về thực trạng và nguyên nhân qua đó phần nào giúp định hướng những kiến nghị lên cơ quan quản lý cấp trên kịp thời đưa ra những phương hướng chỉ đạo sát đúng để có những giải pháp phù hợp nhằm giảm nghèo trên địa bàn xã. - Xác định được thực trạng và nguyên nhân của nghèo tứ đó đưa ra các giải pháp phù hợp để góp phần thúc đẩy giảm nghèo trên địa bàn xã.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên của các lớp khóa sau. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Những vấn đề cơ bản về nghèo và giảm nghèo Nói đến nghèo có rất nhiều khía cạnh. Chúng ta cần trả lời được những câu hỏi, khái niệm về nghèo cơ bản sau: 2.1 Một số khái niệm Quan niệm thế nào là nghèo? Ai là người nghèo? Họ đang sống ở đâu? Họ nghèo vì nguyên nhân gì? Làm thế nào để giảm nghèo? để trả lời các câu hỏi trên cần hiểu rõ bản chất và nội hàm của nghèo.
Trước tiên phải khẳng định là không có sự thống nhất tuyệt đối về nghèo, do bản thân quan niệm về nghèo đã thay đổi nhanh chóng qua 3 thập kỷ qua. Nếu như đầu những năm 70, nghèo chỉ được coi là nghèo về tiêu dùng, với tư tưởng cốt lõi là căn bản nhất để một người bị coi là nghèo, đó là sự “Thiếu hụt” so với một mức sống nhất định mà sự thiếu hụt này được xác định theo các chuẩn mực xã hội và phụ thuộc vào không gian và thời gian. Tuy nhiên quan niệm về nghèo hay nhận dạng về nghèo của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người. Sự khác nhau chung nhất là thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia.
Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về nghèo do hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok - Thái Lan vào tháng 9 năm 1993: “ Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận,[5]. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen - Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”, [10]. n 5 Thực chất là hai vấn đề đói và nghèo là khác nhau: - Nghèo: Là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có các điều kiện vật chất và tinh thần để duy trì cuộc sống của gia đình họ ở mức tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng. Mức tối thiểu được hiểu là các điều kiện ăn, ở, mặc và các nhu cầu khác như: Văn hóa, giáo dục, y tế, đi lại, giao tiếp … Chỉ đạt mức duy trì cuộc sống rất bình thường và dưới đó là đói khổ.
Nghèo luôn luôn là dưới mức trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Giữa mức nghèo và mức trung bình của xã hội có một khoảng cách thường là ba lần trở lên. Ngân hàng Châu Á đưa ra khái niệm về nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối như sau: - Nghèo tuyệt đối: Là việc không thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống của con người. - Nghèo tương đối: Là tình trạng không đạt tới mức tối thiểu tại một thời điểm nào đó.
Các quan điểm đánh giá nghèo Sẽ không có chuẩn nghèo nào chung cho tất cả các nước, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, từng quốc gia. Phương pháp thông dụng để đánh giá mức độ nghèo là xác định mức thu nhập có thể đáp ứng nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống của con người, sau đó xác định xem ở trong nước hay vùng có bao nhiêu người có mức thu nhập dưới mức đó. Tuy nhiên, phương pháp lượng hóa nhu cầu tối thiểu ở mỗi nước để biểu hiện đường danh giới nghèo cũng khác nhau.