CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐÓI NGHÈO VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. Một số đề tài cấp bộ Năm 2004 Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và UNDP tại Việt Nam đã có nghiên cứu “Đánh giá cuối kỳ Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và Chương trình 135-I”. Nghiên cứu này đã đánh giá toàn bộ việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và Chương trình phát triển KT-XH các xã đặc biệt khó khăn thuộc khu vực dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn I (Gọi tắt là Chương trình 135-I) ở Việt nam đồng thời cũng đã đưa ra những khuyến nghị quan trọng phục vụ việc thiết kế các Chương trình giảm nghèo trong tương lai nói chung và cải thiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo nói riêng cho giai đoạn 2006-2010. Đề tài cấp Bộ “Xây dựng bộ chỉ số theo dõi đánh giá hoạt động của hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội và xóa đói giảm nghèo” có mã số CB 2008-03-05 do Viện Khoa học Lao động và Xã hội thực hiện năm 2008.
Đề tài đã tiến hành nghiên cứu và khẳng định BHXH, BTXH, XĐGN là những trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh xã hội. Một bộ chỉ số theo dõi, đánh giá toàn diện, cụ thể và khả thi sẽ góp phần hữu hiệu vào việc xây dựng, quản lý và điều hành hiệu quả các chương trình, chính sách an sinh xã hội. Đề tài đã nghiên cứu và đưa ra một bộ chỉ tiêu theo dõi đánh giá phù hợp với tình hình an sinh xã hội hiện tại. Một số đề tài cấp bộ khác như: “Vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội” của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2004), “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới - Vấn đề và giải pháp” Vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội đã đánh giá việc giải quyết mối quan hệ giữa TTKT 5 với công bằng xã hội ở nước ta trong 20 năm đổi mới và đề xuất các giải pháp bảo đảm mối quan hệ giữa TTKT với công bằng xã hội trong thời gian tới.
Tháng 12 năm 2008, Ủy ban Dân tộc nghiên cứu tại “Báo cáo phân tích điều tra cơ bản chương trình 135-II” đã cung cấp một cơ hội tốt để đưa ra những đóng góp quan trọng đối với những thông tin hiện có về điều kiện sống của DTTS tại Việt nam đặc biệt là đưa ra được bức tranh tổng thể về điều kiện sống của các gia đình ở các xã đặc biệt khó khăn thuộc khu vực DTTS và miền núi và sự tham gia của họ vào Chương trình 135. Gần đây nhất, trong đề tài “Tổng kết và đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách xóa đói giảm ở nước ta giai đoạn 2001-2010, xây dựng cơ chế chính sách và giải pháp xóa đói giảm nghèo phục vụ cho công tác quản lý và điều hành của đảng trong giai đoạn 2011-2020”, của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh do PGS.TS Lê Quốc Lý chủ biên đã tổng kết 10 năm thực hiện công tác XĐGN. Trong báo cáo này, tác giả đã đi sâu phân tích những thành tựu, hạn chế và những nhân tố tác động, nguyên nhân hạn chế của quá trình thực tiễn thực hiện chính sách XĐGN giai đoạn 2001-2010 đồng thời đề xuất, kiến nghị với các cấp về các vấn đề cần đề cập đến trong xây dựng cơ chế, chính sách và giải pháp XĐGN cho giai đoạn 10 năm tới. Bài báo, Tạp chí khoa học Tạp chí khoa học, Đại học Huế, số 28, 2005 có bài “Nghiên cứu đói, nghèo của các nông hộ huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” do Trịnh Văn Sơn, trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế làm tác giả.
Bài viết đi sâu phân tích thực trạng đói, nghèo của các nông hộ huyện Phú Vang. Kết quả thấy rằng: Đối với huyện Phú Vang, số hộ nghèo, đói trong nông nghiệp và nông thôn hiện nay vẫn còn chiếm 1 tỷ lệ khá lớn, đặc biệt và vùng Đầm Phá. Nguyên nhân đói, nghèo chủ yếu tập trung vào các nguyên nhân về vốn, về tri thức và một số nguyên nhân khác như cơ sở hạ tầng nông thôn còn yếu kém, chậm chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặc biệt cơ cấu về 6 nông – lâm – ngư và cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Từ đó đưa ra một số giải pháp chủ yếu góp phần xóa đói, giảm nghèo cho huyện.
Cùng với tạp chí khoa học trên, số 68, 2011 có bài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo của các nông hộ ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình” do Lê Văn Dũng và Nguyễn Quang Trường ở trường Trung cấp Kinh tế Quảng Bình là tác giả. Bài viết đi vào phân tích thực trạng hộ nghèo ở huyện Quảng Ninh và ảnh hưởng của các nhân tố đến đói, nghèo của các nông hộ. Kết quả cho thấy, tỷ lệ hộ nghèo của huyện trong những năm lại đây đã giảm. Tuy nhiên, vẫn còn cao so với mức trung bình chung của toàn tỉnh; Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến đói, nghèo của các nông hộ.
Trong đó, hộ ở vùng miền núi, người dân tộc Vân Kiều, quy mô nhân khẩu và hộ thuần nông có tác động cùng chiều với nguy cơ nghèo của hộ. Ngược lại, các yếu tố như đất canh tác, lao động, vốn dùng cho sản xuất kinh doanh cũng như trình độ học vấn của chủ hộ có tác động ngược chiều với khả năng nghèo của hộ. Tạp chí khoa học kinh tế số 01 năm 2013, đăng ngày 15 tháng 04 năm 2013 có bài “Nâng cao thu nhập cho người nghèo trên địa bàn thành phố Tam Kỳ” do ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo là tác giả.
Bài viết chủ yếu phân tích kết quả giảm nghèo, làm rõ thực trạng về thu nhập của người nghèo và đánh giá tác động của các yếu tố đến thu nhập của người nghèo ở thành phố Tam Kỳ. Kết quả cho thấy tỷ lệ hộ nghèo, đặc biệt là khoảng cách nghèo, độ trầm trọng của nghèo ở thành phố Tam Kỳ đã có sự giảm đi mạnh mẽ trong khoảng thời gian khảo sát 2008-2010. Thu nhập của hộ nghèo có tăng lên trong toàn thành phố Tam Kỳ, trong đó các hộ nghèo sống ở các phường trung tâm có sự tăng lên về thu nhập cao hơn các hộ nghèo sống ở các xã. Phân tích còn cho thấy một số nguyên nhân cơ bản tác động đến thu nhập của các hộ nghèo ở thành phố Tam Kỳ là: trình độ học vấn của chủ hộ, giới tính của chủ hộ, khu vực sinh sống, số con trong hộ.
Luận án tiến sĩ Năm 2009, trong luận án tiến sĩ kinh tế, Vũ Thị Vinh đã nghiên cứu về “Tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo trong quá trình đổi mới ở Việt Nam”. Nghiên cứu 7 này đã phân tích thực trạng của TTKT và giảm nghèo ở Việt Nam, đánh giá sự tác động qua lại giữa TTKT và giảm nghèo và mối quan hệ giữa chúng, đi sâu phân tích các chính sách vĩ mô đã áp dụng ở Việt Nam trong những năm qua và tác động của các chính sách này đối với TTKT và giảm nghèo ở Việt Nam. Mặt khác, nghiên cứu còn đánh giá một cách tương đối toàn diện và có hệ thống tình hình thực hiện mục tiêu TTKT và giảm nghèo của Việt Nam từ sau đổi mới và nêu được một số vấn đề cần đặt ra đối với TTKT và giảm nghèo của Việt Nam. Từ đó nghiên cứu đã đưa ra hệ thống các quan điểm, phương hướng phát triển và đề xuất những giải pháp cơ bản tăng tính đồng thuận giữa TTKT và giảm nghèo nhằm thực hiện mục tiêu TTKT và giảm nghèo bền vững ở Việt Nam trong thời gian tiếp theo.
Cũng trong năm 2009, luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Hoa nghiên cứu về “Hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2005” đã xây dựng một khung lý thuyết hoàn thiện chính sách, trong đó có khung đánh giá chính sách XĐGN dựa trên lý thuyết quản lý theo kết quả. Từ việc tổng kết vai trò của Chính phủ trong tấn công đói nghèo và đi đến kết luận, Chính phủ giữ vai trò quan trọng trong giải quyết tính đa chiều của nghèo đói cũng như đã rút ra được một số bài học từ nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia về giải quyết vấn đề đa chiều của đói nghèo. Nghiên cứu này cũng đã chỉ ra các mặt được mà mỗi chính sách mang lại và đồng thời cũng đã chỉ ra các vấn đề bất cập trong triển khai chính sách cũng như nguyên nhân của những tồn tại đó. Thêm vào đó, luận án cũng đã đánh giá các tác động của các chính sách XĐGN chủ yếu qua các tiêu chí tính hiệu quả, tính hiệu lực, phù hợp và bền vững của chính sách.
Năm 2012, trong luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Hành chính công của trường Học viện hành chính thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hai cán bộ: GS. Bùi Văn Nhơn và TS. Trần Bội Lan đã hướng dẫn nghiên cứu sinh Bun Lý SayThongPhết đã nghiên cứu vấn đề “Quản lý nhà nước về xóa đói giảm nghèo vùng cao dân tộc Bắc Lào trong giai đoạn hiện nay”. Luận án đã: Thứ 1, hệ thống hóa có bổ sung mới cơ sở khoa học của QLNN về xóa đói giảm nghèo.
Theo đó đã đưa ra khái niệm QLNN về XĐGN, phân tích mối quan hệ giữa 8 chủ thể, khách thể và đối tượng quản lý nhà nước về XĐGN, tổng hợp, hệ thống hóa những nội dung chủ yếu của hoạt động quản lý nhà nước về XĐGN trong nền kinh tế thị trường hội nhập kinh tế quốc tế. Thứ 2, Tổng kết kinh nghiệm của các nước (Việt Nam, Trung Quốc…) về QLNN đối với XĐGN và rút ra những vấn đề có thể nghiên cứu vận dụng ở Lào, đặc biệt là đặt công tác XĐGN vào chiến lược và chương trình tổng thể của nhà nước Lào. Thứ 3, Phân tích thực trạng QLNN về XĐGN ở vùng cao dân tộc Bắc Lào, chỉ ra kết quả đạt được, những hạn chế, và làm rõ những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các hạn chế như: cách biệt về địa lý, ngôn ngữ và xã hội; rủi ro của vùng cao; áp lực dân số cao và đất canh tác bị thu hẹp; thiếu sự tham gia đầy đủ của nhân dân; trình độ học vấn thấp, còn hủ tục và tệ nạn xã hội; chính sách đầu tư của nhà nước chưa có hiệu quả.