Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động 1. Khái niệm xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại, mà hàng hóa đem xuất là sức lao động của con người, còn khách mua là chủ thể người nước ngoài. Nói cách khác, xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế dưới dạng dịch vụ cung ứng lao động cho nước ngoài, mà đối tượng của nó là con người (Đặng Đình Đào, 2005).
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO, 1991) thì “XKLĐ là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất hợp pháp quy định được sự thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận người lao động”. Xét theo hướng tiếp cận của nội dung nghiên cứu này, khái niệm xuất khẩu lao động có thể được khái quát như sau: Xuất khẩu lao động là hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Xuất khẩu lao động có tổ chức, hợp pháp thông qua các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động. Một số đặc điểm của xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động có những đặc điểm riêng sau: Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế.
Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế vì nó thực hiện chức năng kinh doanh, thực hiện mục tiêu lợi nhuận. XKLĐ đem lại lợi ích kinh tế cho cả hai bên tham gia (bên cung) và bên cầu. Ở tầm vĩ mô bên cung là nước XKLĐ, bên cầu là nước nhập khẩu lao động. Ở tầm vi mô bên cung là người lao động và đại diện cho họ là các tổ chức kinh tế làm công tác xuất khẩu lao động, bên cầu là người sử dụng lao động nước ngoài.
Dù đứng ở góc độ nào thì với tư cách là chủ thể của một c 7 hoạt động kinh tế cả bên cung và bên cầu khi tham gia hoạt động XKLĐ đều nhằm mục tiêu là lợi ích kinh tế. Họ luôn luôn tính toán giữa chi phí phải bỏ ra với lợi ích thu được để có quyết định hành động cuối cùng sao cho lợi nhất. Chính vì thế bên cạnh các quốc gia chỉ đơn thuần là xuất khẩu hay nhập khẩu lao động thì còn có cả những quốc gia vừa xuất khẩu vừa nhập khẩu lao động. Xuất khẩu lao động là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội.
Tính xã hội thể hiện ở chỗ là dù các chủ thể tham gia XKLĐ với mục tiêu kinh tế nhưng trong quá trình tiến hành XKLĐ thì cũng đồng thời tạo ra các lợi ích cho xã hội như giải quyết công ăn việc làm cho một bộ phận người lao động, góp phần ổn định và cải thiện cuộc sống cho người dân, nâng cao phúc lợi xã hội, đảm bảo an ninh chính trị. XKLĐ thực chất là xuất khẩu “Sức lao động” không tách rời khỏi người lao động. Do vậy, mọi chính sách pháp luật trong lĩnh vực XKLĐ phải kết hợp với các chính sách xã hội. Phải đảm bảo để người lao động ở nước ngoài được lao động như đã cam kết trong hợp đồng lao động, cần phải có những chính sách tiếp nhận và sử dụng người lao động sau khi họ hoàn thành hợp đồng ở nước ngoài và trở về nước [Lê Xuân Bá và cộng sự, 2003] Xuất khẩu lao động là sự kết hợp hài hoà giữa sự quản lý vĩ mô của Nhà nước và sự chủ động tự chịu trách nhiệm của tổ chức xuất khẩu lao động.
Nếu như trước đây (giai đoạn 1980 - 1990) Việt Nam tham gia thị trường lao động, về cơ bản Nhà nước vừa quản lý nhà nước nói chung, vừa quản lý về hợp tác lao động với nước ngoài, Nhà nước làm thay cho các tổ chức kinh tế về hoạt động XKLĐ. Ngày nay, trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế thì hầu như toàn bộ hoạt động XKLĐ đều do các tổ chức XKLĐ tự thực hiện trên cơ sở pháp luật và hợp đồng đã ký kết. Đồng thời, các tổ chức XKLĐ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về hiệu quả kinh tế trong hoạt động XKLĐ của mình. Như vậy, các hiệp định hay các thoả thuận song phương mà Chính phủ ký kết chỉ mang tính nguyên tắc, thể hiện vai trò và trách nhiệm của Nhà nước ở tầm vĩ mô.
c 8 Xuất khẩu lao động là một hoạt động mang tính cạnh tranh mạnh Cạnh tranh là quy luật tất yếu của thị trường. Khi XKLĐ vận động theo quy luật thị trường thì tất yếu nó phải chịu sự tác động của quy luật cạnh tranh và mang tính cạnh tranh. Sự cạnh tranh ở đây diễn ra giữa các nước XKLĐ với nhau và giữa các DN XKLĐ trong nước với nhau trong việc giành và thống lĩnh thị trường XKLĐ. Cạnh tranh giúp cho chất lượng nguồn lao động xuất khẩu ngày càng được nâng cao và đem lại lợi ích nhiều hơn cho các bên tham gia đồng thời cũng đào thải những cá thể không có khả năng vận động và thích nghi trong vòng xoáy ấy.
Ngày nay, XKLĐ diễn ra trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Tính gay gắt trong cạnh tranh của XKLĐ xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu. Một là, XKLĐ mang lại lợi ích kinh tế khá lớn cho các nước đang có khó khăn về giải quyết việc làm, do vậy, đã buộc các nước XKLĐ phải cố gắng tối đa để chiếm lĩnh thị trường ngoài nước. Hai là, XKLĐ đang diễn ra trong môi trường suy giảm kinh tế trong khu vực.
Nhiều nước trước đây thu nhận nhiều lao động nước ngoài như: Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đang phải đối đầu với tỉ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng. Điều này hạn chế rất lớn đến việc tiếp nhận lao động và chuyên gia nước ngoài. Do đó, các chính sách và pháp luật của Nhà nước cần phải lường trước được tính chất cạnh tranh gay gắt trong XKLĐ để có chương trình đào tạo lao động có chất lượng cao nhằm tăng khả năng cạnh tranh của lao động nước ta. Xuất khẩu lao động phải đảm bảo lợi ích của ba bên trong quan hệ xuất khẩu lao động.
Trong lĩnh vực XKLĐ, lợi ích kinh tế của Nhà nước là khoản ngoại tệ mà người lao động gửi về hay các khoản thuế mà DN XKLĐ phải nộp. Lợi ích của các tổ chức XKLĐ là các khoản thu được từ người lao động, chủ yếu là các loại phí giải quyết việc làm ngoài nước, phí đào tạo hoặc phí quản lý. Lợi ích của người lao động là khoản thu nhập thường cao hơn nhiều so với lao động ở trong nước. Do vậy, các chế độ chính sách của Nhà nước phải tính toán sao cho đảm bảo được sự hài hoà lợi ích của các bên, trong đó phải chú ý đến lợi ích trực tiếp của người lao động.
c 9 Xuất khẩu lao động là hoạt động đầy biến đổi. Hoạt động XKLĐ phụ thuộc rất nhiều vào các nước có nhu cầu nhập khẩu lao động, do vậy, cần phải có sự phân tích toàn diện và thấu đáo các chương trình, các dự án ở nước ngoài đang và sẽ được thực hiện để xây dựng chính sách đào tạo và chương trình đào tạo, giáo dục định hướng phù hợp và linh hoạt. Chỉ có những nước nào chuẩn bị đội ngũ công nhân với tay nghề và trình độ tốt hơn mới có lợi thế hơn trong việc chiếm lĩnh thị phần lao động ở ngoài nước và cũng chỉ có nước nào nhìn xa, trông rộng, phân tích đánh giá và dự báo đúng tình hình, đưa ra các chính sách đón đầu trong hoạt động XKLĐ mới không bị động trước những thay đổi của tình hình thực tế. Tác động của việc xuất khẩu lao động 1.
Tác động tích cực * Đối với các nước xuất khẩu lao động Trước hết chúng ta phân tích hoạt động XKLĐ trên khía cạnh những tác động tích cực mà nó mang lại đối với sự phát triển của nước XKLĐ. XKLĐ là hoạt động kinh tế quan trọng, có đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. XKLĐ không chỉ là một kênh giải quyết việc làm cho người lao động rất có ý nghĩa, hơn thế nữa nó còn mang lại nguồn thu nhập ngoại tệ không nhỏ đối với nhiều quốc gia. Nguồn thu từ lao động XK còn có vai trò thúc đẩy đầu tư, giảm bớt sự lệ thuộc vào các khoản vay từ các tổ chức tài chính quốc tế cũng như viện trợ của các nước phát triển.
XKLĐ còn góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hướng ngoại. Đây là một xu hướng tất yếu trong tiến trình hội nhập quốc tế ngày nay. Dưới tác động của các quy luật kinh tế và vai trò điều tiết, định hướng kinh tế vĩ mô của nhà nước, XKLĐ có sức lan tỏa nhanh trong nền kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động theo ngành, theo vùng, theo hướng mở cửa và hội nhập KTQT. Thông qua XKLĐ tay nghề của một bộ phận người lao động được nâng lên nhờ được đào tạo và c 10 đào tạo lại trước khi làm việc ở nước ngoài, từ đó góp phần hình thành đội ngũ công nhân có tác phong công nghiệp, có kỷ luật lao động, có chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động, có trình độ ngoại ngữ…Khi bộ phận người lao động này về nước, họ sẽ đáp ứng tốt yêu cầu của các nhà đầu tư, từ đó góp phần nhất định trong việc chuyển dịch kinh tế theo cơ cấu nghề một cách hợp lý hơn.
Do đó, phát triển XKLĐ được xem là một trong những con đường nhanh nhất giúp cho một số quốc gia thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiệu quả, phù hợp với mục tiêu phát triển của mình. Bên cạnh đó XKLĐ còn góp phần tạo việc làm, giải quyết chính sách xã hội, ổn định xã hội, an ninh - quốc phòng. Thực hiện tốt công tác XKLĐ sẽ giảm được tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây ra, tạo một hướng lao động tích cực cho người lao động, học tập được phong cách lao động mới do tổ chức lao động ở nước ngoài trang bị. XKLĐ còn góp phần đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đóng góp tích cực trong quá trình CNH - HĐH đất nước.