Luận văn: Giải pháp công nghệ cho giao dịch lưu động - NHCSXH Việt Nam

Luận văn giải pháp công nghệ cho giao dịch lưu động NHCSXH Việt Nam. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng chính sách.

Chuyên ngành

Công nghệ thông tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

71
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Danh mục bảng biểu

Danh mục hình vẽ

Danh mục ký hiêu, từ viết tắt

1. CHƯƠNG 1. Giải pháp nghiệp vụ Giao dịch lưu động

1.1. Vấn đề tồn tại

1.2. Giải pháp giao dịch lưu động

2. CHƯƠNG 2. Giải pháp công nghệ cho Giao dịch lưu động

2.1. Vấn đề khó khăn

2.2. Trường hợp có kết nối Internet tại Điểm GDLĐ

2.3. Giải pháp kết nối Internet giao dịch từ xa

2.4. Phân tích tính khả thi kết nối Internet giao dịch từ xa

2.5. Trường hợp không có Internet tại Điểm GDLĐ

2.6. Đặc tả yêu cầu chức năng các module giao dịch lưu động

2.7. Thiết kế chi tiết các module GDLĐ

3. CHƯƠNG 3. Cài đặt và cấu hình hệ thống

3.1. Yêu cầu cài đặt

3.2. Cài đặt, cấu hình hệ thống

3.3. Tích hợp các module vào hệ thống chính

3.4. Module giao dịch giao dịch lưu động tại xã

3.5. Kết quả thực hiện và các chức năng của chương trình

3.5.1. Chức năng xuất dữ liệu đi giao dịch lưu động

3.5.2. Chức năng nhập dữ liệu đi giao dịch lưu động về

3.5.3. Chức năng giao dịch lưu động tại xã

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng quan về Giải pháp công nghệ giao dịch lưu động

Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) Việt Nam, một tổ chức tài chính vi mô đặc biệt, hướng đến mục tiêu an sinh xã hội thay vì lợi nhuận. Khách hàng của NHCSXH thường là những hộ nghèo, gia đình chính sách ở vùng sâu vùng xa, nơi giao thông khó khăn và cơ sở hạ tầng kém phát triển. Để tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng, NHCSXH triển khai mô hình giao dịch lưu động (GDLĐ), đưa dịch vụ ngân hàng đến tận xã, phường. Tuy nhiên, việc triển khai GDLĐ còn gặp nhiều thách thức, đặc biệt là về công nghệ. Luận văn này tập trung nghiên cứu và đề xuất các giải pháp công nghệ phù hợp cho GDLĐ của NHCSXH, tận dụng sự phát triển của công nghệ thông tin và viễn thông. Mục tiêu là mang lại trải nghiệm giao dịch ngân hàng số tiện lợi, an toàn và hiệu quả cho người dân, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của NHCSXH. Các giải pháp công nghệ được đề xuất sẽ xem xét các yếu tố đặc thù của NHCSXH, như mạng lưới chi nhánh rộng khắp, trình độ dân trí khác nhau, và hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ.

1.1. Tầm quan trọng của giao dịch lưu động ngân hàng

Giao dịch lưu động đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ tài chính cho các đối tượng yếu thế. Nó giúp giảm thiểu chi phí đi lại, thời gian chờ đợi, và các thủ tục phức tạp, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận dễ dàng hơn với các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng. Hơn nữa, GDLĐ còn góp phần nâng cao nhận thức về tài chính và thúc đẩy giao dịch không tiền mặt ở khu vực nông thôn. Việc triển khai hiệu quả GDLĐ giúp NHCSXH thực hiện tốt nhiệm vụ an sinh xã hội, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của đất nước.

1.2. Ưu điểm của ứng dụng ngân hàng di động trong GDLĐ

Sử dụng ứng dụng ngân hàng di động trong GDLĐ mang lại nhiều ưu điểm vượt trội. Nó cho phép cán bộ ngân hàng thực hiện các giao dịch một cách nhanh chóng, chính xác, và bảo mật, đồng thời giảm thiểu sai sót do thao tác thủ công. Ứng dụng còn cung cấp các tính năng quản lý thông tin khách hàng, theo dõi lịch sử giao dịch, và tạo báo cáo, giúp nâng cao hiệu quả quản lý và kiểm soát. Ngoài ra, ứng dụng ngân hàng di động có thể tích hợp các công nghệ mới như xác thực sinh trắc học, eKYC, giúp tăng cường an ninh và phòng chống gian lận.

II. Các vấn đề thách thức của Giao dịch lưu động Ngân hàng

Triển khai giao dịch lưu động (GDLĐ) gặp không ít khó khăn, từ hạ tầng công nghệ đến quy trình nghiệp vụ. Nhiều điểm GDLĐ nằm ở vùng sâu vùng xa, nơi kết nối Internet yếu hoặc không có, gây khó khăn cho việc giao dịch ngân hàng số. Việc đảm bảo an ninh thông tin và phòng chống rủi ro gian lận cũng là một thách thức lớn, đặc biệt khi sử dụng các thiết bị di động để giao dịch. Bên cạnh đó, trình độ công nghệ của cán bộ ngân hàng và người dân còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận và sử dụng các giải pháp công nghệ. Cuối cùng, việc tuân thủ các quy định ngân hàng số và đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động GDLĐ cũng đòi hỏi sự đầu tư và nỗ lực không ngừng.

2.1. Hạn chế về kết nối Internet và cơ sở hạ tầng

Thiếu hụt kết nối Internet ổn định và cơ sở hạ tầng điện là một trong những rào cản lớn nhất đối với việc triển khai GDLĐ hiệu quả. Điều này đòi hỏi phải có các giải pháp dự phòng, như sử dụng giao dịch offline hoặc kết nối qua mạng 3G/4G. Tuy nhiên, các giải pháp này có thể không đảm bảo tốc độ và độ ổn định, ảnh hưởng đến trải nghiệm người dùng ngân hàng di động. Do đó, việc đầu tư vào nâng cấp cơ sở hạ tầng và mở rộng vùng phủ sóng Internet là rất cần thiết.

2.2. Rủi ro bảo mật trong giao dịch ngân hàng di động

An ninh là yếu tố then chốt trong giao dịch ngân hàng di động. Các thiết bị di động dễ bị mất cắp hoặc tấn công mạng, làm lộ thông tin cá nhân và tài khoản của khách hàng. Vì vậy, cần có các biện pháp bảo mật mạnh mẽ, như mã hóa dữ liệu, xác thực sinh trắc học, và giám sát giao dịch bất thường. Đồng thời, cần nâng cao ý thức của người dùng về an ninh mạng và hướng dẫn họ cách bảo vệ thông tin cá nhân.

2.3. Đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức số

Để triển khai thành công các giải pháp công nghệ cho GDLĐ, cần chú trọng đến đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức số cho cán bộ ngân hàng và người dân. Cán bộ ngân hàng cần được trang bị kiến thức và kỹ năng về công nghệ, nghiệp vụ, và quản lý rủi ro. Người dân cần được hướng dẫn cách sử dụng các ứng dụng ngân hàng di động một cách an toàn và hiệu quả. Các chương trình đào tạo và tuyên truyền cần được thiết kế phù hợp với từng đối tượng, đảm bảo dễ hiểu và dễ áp dụng.

III. Phương pháp kết nối Internet cho giao dịch từ xa hiệu quả

Giải pháp kết nối Internet từ xa là yếu tố then chốt để nâng cao khả năng đáp ứng giao dịch ngân hàng số cho người dùng ở mọi điểm truy cập. NHCSXH có thể triển khai kết nối trực tiếp qua đường truyền Internet (ADSL) hoặc kết nối qua mạng không dây 3G/4G. Việc lựa chọn phương pháp phù hợp phụ thuộc vào điều kiện cơ sở hạ tầng và chi phí đầu tư. Tuy nhiên, cần đảm bảo tốc độ và độ ổn định của đường truyền để đáp ứng yêu cầu giao dịch. Giải pháp kết nối Internet phải tương thích với hệ thống bảo mật hiện tại để bảo vệ thông tin giao dịch

3.1. Ưu nhược điểm của kết nối Internet trực tiếp ADSL

Kết nối Internet trực tiếp (ADSL) mang lại tốc độ cao và độ ổn định tốt, đáp ứng tốt yêu cầu giao dịch. Tuy nhiên, việc đăng ký thuê các kênh Internet ADSL cho mỗi điểm giao dịch có thể khá tốn kém. Dù vậy, với sự phát triển của Internet, ADSL sẽ trở nên phổ biến hơn. ADSL cũng cần đầu tư ban đầu đáng kể về thiết bị.

3.2. Lợi ích hạn chế của kết nối Internet qua 3G 4G

Kết nối Internet qua mạng 3G/4G là một giải pháp linh hoạt và tiết kiệm chi phí. Mỗi tổ giao dịch chỉ cần một USB 3G/4G để kết nối. Tuy nhiên, tốc độ và lưu lượng có thể không cao bằng ADSL. 3G/4G sẽ được cải thiện hơn trong tương lai gần. Điều quan trọng là tìm được các gói cước 3G/4G phù hợp để tiết kiệm chi phí phát sinh.

IV. Giải pháp công nghệ giao dịch lưu động offline hiệu quả

Trong trường hợp không có Internet, giao dịch offline trở thành giải pháp khả thi. Điều này đòi hỏi việc phát triển phần mềm độc lập, có khả năng đồng bộ hóa dữ liệu với hệ thống chính sau khi kết nối lại Internet. Phần mềm cần đảm bảo tính bảo mật, chính xác và dễ sử dụng cho cán bộ ngân hàng. Quy trình giao dịch offline cần được thiết kế chặt chẽ để tránh sai sót và gian lận. NHCSXH có thể thiết kế 3 module để hỗ trợ giao dịch offline đó là: module xuất dữ liệu đi GDLĐ, module GDLĐ tại xã và module nhập dữ liệu đi GDLĐ về.

4.1. Thiết kế module xuất dữ liệu đi giao dịch lưu động

Module này cho phép xuất dữ liệu liên quan đến giao dịch của xã cần giao dịch từ hệ thống chính ra một vùng riêng. Cán bộ giao dịch có thể chọn xã và ngày giao dịch, sau đó nạp dữ liệu vào phần mềm giao dịch tại xã. Chương trình kiểm tra dữ liệu đầu vào, đảm bảo tính chính xác trước khi xuất. Khi dữ liệu đã được xuất, hệ thống sẽ khóa cơ sở dữ liệu của xã đó, ngăn chặn giao dịch trực tuyến cho đến khi dữ liệu được cập nhật trở lại.

4.2. Xây dựng module giao dịch lưu động tại xã dễ dùng

Module này là phần mềm độc lập chạy trên máy tính tại xã. Nó có chức năng nhập dữ liệu từ hệ thống chính, thực hiện các giao dịch với khách hàng, và xuất dữ liệu giao dịch trong ngày. Module tạo số bút toán riêng biệt để tránh trùng lặp. Phần mềm tự động kết nối và nhập dữ liệu khi có Internet. Nó phải tương thích với các hệ điều hành phổ biến hiện nay. Module cũng có các chức năng thông báo cho người dùng biết để xử lý những tình huống bất thường.

4.3. Module nhập dữ liệu giao dịch về sau phiên offline

Vào cuối ngày, module này giúp cập nhật dữ liệu giao dịch từ phần mềm tại xã về hệ thống chính. Cán bộ ngân hàng cần kiểm tra tính hợp lệ của dữ liệu và xử lý các sai sót (nếu có). Sau khi dữ liệu được nhập thành công, hệ thống sẽ mở khóa cơ sở dữ liệu của xã, cho phép giao dịch trực tuyến trở lại. Cần kiểm soát đầy đủ dữ liệu về và khi nhập dữ liệu về gặp sự cố thì không được bỏ tích chức năng giao dịch tại hệ thống của xã hiện thời .

V. Ứng dụng thực tiễn kết quả của Giải pháp công nghệ

Việc áp dụng các giải pháp công nghệ vào GDLĐ mang lại những kết quả rõ rệt. Khách hàng tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại, đồng thời được phục vụ tận tình, chu đáo. Cán bộ ngân hàng làm việc hiệu quả hơn, giảm thiểu sai sót và rủi ro. NHCSXH nâng cao năng lực phục vụ, mở rộng phạm vi hoạt động, và thực hiện tốt nhiệm vụ an sinh xã hội. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả tối đa, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan, từ cán bộ ngân hàng, người dân, đến chính quyền địa phương.

5.1. Nâng cao trải nghiệm người dùng với giao diện thân thiện

Giao diện người dùng thân thiện, dễ sử dụng là yếu tố quan trọng để thu hút và giữ chân khách hàng. Các ứng dụng ngân hàng di động cần được thiết kế trực quan, sinh động, và phù hợp với trình độ dân trí của người dân. Các chức năng cần được sắp xếp hợp lý, dễ tìm kiếm và thao tác. Cần có hướng dẫn chi tiết và hỗ trợ trực tuyến để giúp người dùng làm quen và sử dụng thành thạo các tính năng.

5.2. Đảm bảo tuân thủ quy định ngân hàng và an toàn dữ liệu

Mọi hoạt động GDLĐ phải tuân thủ các quy định ngân hàng số và đảm bảo an toàn dữ liệu. Các quy trình nghiệp vụ cần được chuẩn hóa và kiểm soát chặt chẽ. Cần có các biện pháp bảo mật mạnh mẽ để bảo vệ thông tin cá nhân và tài khoản của khách hàng. Đồng thời, cần thường xuyên kiểm tra và đánh giá rủi ro để phát hiện và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh. Việc này nhằm đem lại một hệ thống an toàn, đáng tin cậy cho người dùng.

VI. Kết luận Tương lai của giải pháp giao dịch lưu động

Luận văn đã đề xuất các giải pháp công nghệ phù hợp cho GDLĐ của NHCSXH, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và phục vụ khách hàng tốt hơn. Tuy nhiên, đây chỉ là bước khởi đầu. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các công nghệ mới, như AI trong ngân hàng, blockchain trong ngân hàng, và data analytics trong ngân hàng, để tạo ra các giải pháp công nghệ thông minh hơn, an toàn hơn, và tiện lợi hơn. Đồng thời, cần chú trọng đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của NHCSXH trong bối cảnh chuyển đổi số ngân hàng.

6.1. Ứng dụng AI Chatbot nâng cao hiệu quả hỗ trợ khách hàng

Việc ứng dụng AI trong ngân hàng có thể giúp nâng cao hiệu quả hỗ trợ khách hàng trong GDLĐ. Chatbot ngân hàng có thể trả lời tự động các câu hỏi thường gặp, hướng dẫn sử dụng ứng dụng, và giải quyết các vấn đề đơn giản. AI cũng có thể giúp phân tích dữ liệu khách hàng, phát hiện các giao dịch bất thường, và đưa ra các khuyến nghị phù hợp.

6.2. Triển khai Blockchain Open Banking tạo hệ sinh thái số

Triển khai blockchain trong ngân hàng có thể giúp tăng cường an ninh và minh bạch trong giao dịch. Open banking cho phép NHCSXH kết nối với các đối tác, tạo ra một hệ sinh thái số đa dạng, cung cấp nhiều sản phẩm và dịch vụ giá trị gia tăng cho khách hàng. Cần có khung pháp lý rõ ràng và các tiêu chuẩn chung để đảm bảo tính tương thích và an toàn trong hệ sinh thái số.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Giải pháp nghiệp vụ Giao dịch lưu động 1. Vấn đề tồn tại Do đặc thù của Ngân hàng Chính sách xã hội là Ngân hàng hoạt động không vì mục đích lợi nhuận mà vì mục đích An sinh xã hội. Đối tượng khách hàng là những hộ đặc biệt, khó khăn, nghèo, … Hệ thống tổ chức của NHCSXH cũng đặc biệt, không như những Ngân hàng thương mại là tập trung vào những nơi mà họ thấy có ưu thế như kinh tế phát triển, cơ sở hạ tầng tốt, viễn thông tốt, … Ngân hàng Chính sách xã hội có hệ thống tổ chức trải khắp cả nước, Trung tâm điều hành nằm ở Hà Nội (Hội sở chính), 63 tỉnh, thành phố là 63 Chi nhánh trực thuộc Hội sở chính (Ngân hàng Chính sách xã hội trung ương), 617 quận, huyện là 617 Phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh cấp tỉnh [6].

Mỗi Phòng giao dịch chịu trách nhiệm cho vay các đối tượng chính sách trong quận, huyện của mình và mỗi xã, phường trong quận, huyện là một điểm giao dịch lưu động. Đặc biệt nữa là càng những nơi khó khăn, nghèo khó thì hoạt động của NHCSXH càng mạnh. Bởi vậy không tránh khỏi những khó khăn cho Ngân hàng và Khách hàng. Về phía Khách hàng: - Đa phần khách hàng ở xa trung tâm huyện, đường xá không tốt, đi lại khó khăn.

Phương tiện đi lại rất hạn chế, nhiều hộ gia đình phải đi bộ cả ngày đường để đến trụ sở giao dịch Ngân hàng, nhiều nơi phải đi đò, đi xe đạp, … Bởi vậy rất mất thời gian và công sức để, có khi chi phí đi lại phát sinh còn nhiều hơn số tiền giao dịch (tiền lãi tiết kiệm, trả lãi tiền vay, …). Vấn đề là làm sao để giảm được những chi phí này. - Vì khách hàng trong một huyện đều đến trụ sở giao dịch, nên số lượng khác hàng giao dịch sẽ tập trung rất đông. Nên cho dù khách hàng đi vất vả đến trụ sở Ngân hàng giao dịch, nhưng nhiều khi phải chờ rất lâu, nhỡ buổi mà có khi vẫn không đến lượt mình giao dịch vì hết giờ làm việc, hết ngày.

Vấn đề là làm sao để giảm lượng khách hàng tập trung quá đông. Về phía Ngân hàng: - Khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ Chính phủ giao cho, đó là tiếp cận hộ nghèo và các đối tượng chính sách để đưa đồng vốn ưu đãi Quốc gia đến đối tượng thụ hưởng, giúp họ xóa đói, giảm nghèo. Nhưng do đối tượng khách hàng và địa bàn hoạt động đặc biệt nên Ngân hàng khó tiếp cận và giúp đỡ được những đối tượng chính sách này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 - Khi xuống giao dịch tại xã, nhân dân sẽ cảm thấy gần gũi hơn với Ngân hàng chính sách xã hội và họ tin tưởng vào Chính sách và sự quan tâm của nhà nước để sinh sống làm ăn tốt hơn.

Giải pháp giao dịch lưu động Để giải quyết vấn đề nêu trên, giảm công sức đi lại, chi phí cho khách hàng, để gia tăng số lượng khách hàng và hoàn thành nhiệm vụ được giao, NHCSXH sẽ thực hiện giao dịch tại cấp xã (GDLĐ) với các nội dung cụ thể như sau: - Tổ giao dịch lưu động: Tổ chức cán bộ của Phòng giao dịch gồm các tổ Giao dịch lưu động, mỗi tổ bao gồm các thành phần Kế toán, Tín dụng và Thủ quỹ đảm bảo thành phần nhân sự cho quy định giao dịch tài chính Ngân hàng. Tổ giao dịch lưu động có 01 tổ trưởng và các tổ viên, mỗi tổ tối thiểu 03 cán bộ [1]. - Lịch giao dịch lưu động: Tại mỗi một xã, trong một tháng, Ngân hàng sẽ cử một tổ giao dịch lưu động xuống để giao dịch gọi là ngày GDLĐ. Ngày giao dịch sẽ được cố định hàng tháng để khách hàng dễ sắp xếp thời gian.

Những xã có dư nợ không lớn hoặc số lượng khách hàng không nhiều có thể gộp lại đi giao dịch trong một ngày, sáng đi một huyện, chiều đi một huyện hoặc giao dịch xong huyện này rồi sang huyện khác. Trong một huyện, lãnh đạo Phòng giao dịch sắp xếp làm sao để giao dịch đến hết tất cả các xã mỗi xa một phiên trong một tháng. - Địa điểm giao dịch: Vì Ngân hàng Chính sách là một đơn vị nhà nước, phối kết hợp với các cơ quan, ban ngành của nhà nước để thực hiện chính sách của Chính phủ, nên dễ dàng mượn được Phòng làm việc tại Ủy ban nhân dân xã để làm việc. Được tạo điều kiện tốt nhất để làm việc, đây là một lợi thế rất lớn của Ngân hàng Chính sách xã hội - Tạm ứng tiền đi GDLĐ: Khi đi GDLĐ, số tiền phải chi đã được xác đinh, đó là các món giải ngân, các khoản chi, … Còn số tiền thu (khách hàng trả nợ, trả lãi, …) thì không xác định, cho nên để cân đối thu chi thì cán bộ đi giao dịch phải tạm ứng số tiền tối thiểu bằng số tiền phải chi, ta gọi đó là tiền tạm ứng đi GDLĐ.

Số tiền này sẽ do tổ trưởng Tổ GDLĐ tạm ứng và được ghi nợ vào tài khoản của cán bộ Tổ trường này trên hệ thống. Cuối ngày GDLĐ về, hệ thống sẽ cân đối thu chi và tất toán món tạm ứng của Tổ trưởng tổ GDLĐ [1]. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Giao dịch lưu động (Giao dịch tại xã): Hàng tháng, theo lịch định sẵn, Tổ trưởng tổ giao dịch lưu động thay mặt Tổ nhận dữ liệu đi giao dịch đồng thời tạm ứng số tiền cần thiết. Tổ giao dịch sẽ xuống xã để giao dịch trực tiếp với khách hàng (giải ngân tiền vay, thu nợ, thu lãi, thu chi tiết kiệm và các giao dịch khác) [1].

Kết luận Với giải pháp tổ chức Giao dịch lưu động tại xã nói trên, Ngân hàng Chính sách xã hội sẽ tiếp giảm chi phí rất nhiều cho khách hàng, là giải pháp nghiệp vụ tốt. Có thể nói đây là chìa khóa cho sự thành công của Hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội trong công cuộc xóa đói giảm nghèo cùng Chính phủ và các ban ngành. Đây cũng là hoạt động đặc trưng của Ngân hàng Chính sách xã hội sẽ đem lại rất nhiều lợi ích thiết thực cho xã hội nói chung và cho người nghèo, các đối tượng chính sách nói riêng mà không Ngân hàng nào có được do tính đặc thù của Ngân hàng Chính sách xã hội. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Chương 2.

Giải pháp công nghệ cho Giao dịch lưu động 2. Vấn đề khó khăn - Do tại các điểm Giao dịch lưu động hầu hết là những nơi hạn chế về giao thông, viễn thông, có khá nhiều nơi không có mạng lưới bưu điện, điện thoại, internet thậm chí là không có điện lưới Quốc gia. Bởi vậy khó đưa Công nghệ thông tin vào hoạt động giao dịch và quản lý khách hàng. - Do số lượng khách hàng lớn, khối lượng giao dịch nhiều, nhiều hồ sơ giấy tờ giao dịch nên việc làm thủ công là không thể thực hiện được, không đảm bảo thời gian.

Trong khi biên chế nhân sự của Ngân hàng Chính sách là rất hạn chế, mỗi Phòng giao dịch hiện nay chỉ khoảng 10 cán bộ. - Theo khảo sát, hiện nay hầu hết các xã, phường trên toàn quốc đã có phủ sóng điện thoại di động hoặc có dịch vụ ADSL, có thể vào Internet qua mạng không dây (3G) cho dù là chưa có điện lưới, đây là một hướng đi mới cho Giao dịch trực tuyến qua mạng Internet của NHCSXH. - Các máy tính PC , laptop hiện nay trên thị trường có cấu hì nh khá cao , hơn nữa nhiều công cụ pháp triển và cơ sở dữ liệu khá nhỏ gọn , có thể đáp ứng được yêu cầu giao dịch cho một vài đơn vị vì khối lượng dữ liệu và gia o dịch không quá lớn. Giải pháp Tổ giao dịch lưu động sẽ đem theo máy phát điện, máy tính PC hoặc laptop, USB 3G, máy in và các công cụ khác (nếu cần) để giao dịch trực tiếp trên máy tính và in chứng từ bằng máy in như thực hiện tại Phòng giao dịch.

Tùy theo điều kiện cụ thể tại mỗi xã, phường, có Internet hay không có mà ta có các phương án cụ thể. Nếu có internet thì ta có thể giao dị ch trực tiếp với khách hàng qua hệ thống chính , nếu không có intenet tại xã thì ta sẽ thiết kế phần mềm và giải pháp để có thể áp dụng công nghệ thông tin vào giao dị ch nghiệp vụ. Sau đây là sơ đồ tổng quát về truyền thông từ các máy trạm (người sử dụng) tới máy chủ cơ sở dữ liệu tập trung để giao dịch lưu động online trên hệ thống chính: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 Người sử dụng GDXA offline. Các PGD huyện GDXA online.

Các chi nhánh tỉnh Trung tâm miền Internet Internet tại Hà Nội Database center Trung tâm miền tại TP Hồ Chí Minh Trung tâm miền tại Đà Nẵng Các chi GDXA online nhánh tỉnh Các chi nhánh tỉnh. Người sử dụng GDXA offline Hình 2. Sơ đồ tổng quan GDLĐ online Trong mô hình trên bao gồm: - Một trung tâm dữ liệu (Database center): Tập trung toàn bộ cơ sở dữ liệu của cả hệ thống, mọi giao dịch đều truy cập tới máy chủ cơ sở dữ liệu tại đây (Mô hình cơ sở dữ liệu tập trung). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 - 03 trung tâm khu vực (Miền Bắc tại Hà Nội, miền Trung tại Đà Nẵng và miền Nam tại TP Hồ Chí Minh) được kết nối online bằng đường đồng trục backbon tốc độ cao (mức 5/5) và được kết nối với trung tâm dữ liệu.

- Các chi nhánh tỉnh sẽ kết nối với trung tâm khu vực mình qua đường thuê riêng Megawan tốc độ cao (mức 4/5). - Các Phòng giao dịch của mỗi chi nhánh tỉnh, thành phố sẽ kết nối tới chi nhánh tỉnh, thành phố của mình bằng một đường riêng với tốc độ cao (mức 3/5). - Các Điểm giao dịch tại xã có thể giao dịch offline với hệ thống chí nh. - Các điểm giao dịch cũng có thể kết nối với hệ thống chí nh thông qua Internet trực tiếp (tốc độ mức 2/5) hay qua mạng Internet không dây 3G (tốc độ mức 1/5).

Thực hiện theo mô hình này có thể tiết giảm chi phí thuê đường truyền mà vẫn đảm bảo chất lượng đường truyền (tốc độ và lưu lượng) để giao dịch từ mọi máy trạm (người sử dụng cuối cùng) tới trung tâm dữ liệu tại Trung ương đáp ứng yêu cầu công việc. Trên thực tế, có những nơi có điện lưới, nơi thì không, nếu không có điện lưới thì ta có thể dùng máy phát điện hoặc sử dụng ác quy loại lớn .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ