CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1.1 Cơ cấu Cơ cấu là một phạm trù triết học thể hiện cấu trúc bên trong cũng như tỉ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành một hệ thống. Cơ cấu là thuộc tính của một hệ thống nhất định [2, tr.2 Cơ cấu kinh tế Cho đến nay, vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau cả về khái niệm lẫn nội dung, phạm vi của CCKT. Như: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “CCKT là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành” [3, Tr.
Theo Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin: “Cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là cấu tạo hay cấu trúc của nền kinh tế bao gồm các ngành kinh tế, các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế,… và mối quan hệ hữu cơ giữa chúng” [4, tr. Theo Viện Chiến lược phát triển thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì “CCKT là nội dung, cách thức liên kết, phối hợp giữa các phần tử cấu thành hệ thống kinh tế; biểu hiện quan hệ tỉ lệ cả về mặt lượng và chất của các phần tử hợp thành hệ thống. Nói cách khác CCKT được hiểu là cách thức kết cấu của các phần tử cơ cấu tạo nên hệ thống kinh tế” [5, tr. Như vậy, CCKT là một tổng thể bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau trong một khoảng không gian và thời gian nhất định và trong những điều kiện KT – XH nhất định.
Nó thể hiện cả mặt định tính và định lượng, cả về chất lượng và số lượng, phù hợp với mục tiêu xác định của nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế của một nước bao gồm cơ cấu ngành, cấu trúc thành phần kinh tế, qui mô lãnh thổ trong đó quan trọng nhất là cấu trúc ngành. Một nền kinh tế tăng trưởng ổn định không chỉ đòi hỏi nhịp độ phát triển cao mà cần phải có cấu trúc hợp lí giữa các ngành, các thành phần kinh tế và các vùng lãnh thổ.3 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp Nông nghiệp là một ngành tạo ra vật chất cơ bản, là một bộ phận hình thành quan trọng của nền kinh tế quốc nội. Quá trình chuyển hóa và biến đổi của cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn liền với các hoạt động SXNN nhưng không thể tách rời với quá trình chuyển hóa và biến đổi của CCKT.
Do đó, CCKT nông nghiệp vừa có đặc điểm riêng, vừa mang đặc điểm của CCKT chung. CCKT nông nghiệp là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, là tổng hòa các mối quan hệ hợp thành nền nông nghiệp. Các yếu tố trong đó cũng có tác động lẫn nhau và mỗi biến đổi của một yếu tố nào đó cũng tác động tới các yếu tố khác và Luan van 13 toàn bộ hệ thống. CCKT nông nghiệp là tổng thể bao gồm các mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố trong lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong những khoảng thời gian, không gian và những điều kiện tự nhiên, KT – XH nhất định.
CCKT nông nghiệp bao gồm cả cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp, cơ cấu vùng chuyên môn hóa theo lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế nông nghiệp. CCKT nông nghiệp theo ngành là các mối quan hệ tỉ lệ giữa các ngành. Cùng với sự phát triển của phân công lao động thì cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp cũng vận động và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn, thể hiện ở việc phát triển các ngành chuyên sâu hơn. CCKT nông nghiệp theo ngành phản ánh trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất, trình độ tổ chức quản lí của một quốc gia về nông nghiệp.
Trong một thời gian dài CCKT nông nghiệp theo ngành ở nước ta ít có sự biến đổi. Nhưng từ năm 1986 trở lại đây do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do cơ chế quản lý được đổi mới đã tạo tiền đề quan trọng, có tính chất quyết định đối với việc chuyển dịch. CCKT nông nghiệp theo lãnh thổ biểu hiện sự phân công lao động trong nông nghiệp theo lãnh thổ - không gian địa lý - để tạo điều kiện hình thành các vùng chuyên canh. Nếu như cơ cấu ngành hình thành từ quá trình chuyên môn hóa sản xuất thì cơ cấu lãnh thổ hình thành từ việc bố trí SXNN.
CCKT nông nghiệp theo thành phần kinh tế là các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất trong nông nghiệp. Hộ kinh tế tự chủ là lực lượng chủ yếu, trực tiếp tạo ra sản phẩm nông nghiệp cho nền kinh tế quốc dân. Cùng với kinh tế hộ là kinh tế hợp tác dưới những hình thức khác nhau. Trong quá trình đổi mới kinh tế hợp tác xã đã từng bước được củng cố.
Bộ phận quan trọng khác là các trang trại, nông trường quốc doanh, mặc dù hiện tại còn nhiều khó khăn song trong tương lai với sự đổi mới bộ phận này sẽ phát huy vai trò chủ đạo của mình.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch CCKT là sự thay đổi về số lượng và tương quan tỉ lệ giữa các ngành, các vùng và các thành phần kinh tế. Sự thay đổi đó diễn ra không đơn thuần về mặt vị trí, mà cả về mặt lượng và chất trong nội bộ nền kinh tế. CCKT là khái niệm động, nó luôn thay đổi theo trình độ phát triển của sức sản xuất và nhu cầu của xã hội theo hướng từ đơn giản đến phức tạp và ngày càng hoàn thiện. Về thực chất, chuyển dịch CCKT là quá trình thay đổi cả CCKT hiện có từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển.
Quá trình này diễn ra theo xu hướng cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hay chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới, tiên tiến, đáp ứng các yêu cầu phát triển KT - XH của lãnh thổ trong hoàn cảnh mới. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ xảy ra giữa các loại hình của nền kinh tế mà bắt đầu từ bản chất bên trong của từng ngành theo những xu hướng nhất định. Sự chuyển dịch này được xem như là một trong những nội dung chủ đạo phản ánh mức độ phát triển của một nền kinh tế.5 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Cho đến nay, với nhiều lí thuyết về chuyển dịch CCKT nông nghiệp như: lí thuyết về chuyển dịch cơ cấu hai khu vực của Lewis (1955) và Harry T.Oshima (1960); lí thuyết về thay đổi cơ cấu của Chenery; mô hình các giai đoạn phát triển Luan van 14 nông nghiệp của Todaro (1990) và Sung Sang Park (1992); lí thuyết về phát triển nông nghiệp bền vững; mô hình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn;… đều khẳng định sự phát triển kinh tế cần phải được thông qua quá trình chuyển dịch CCKT. Trong đó, chuyển dịch cơ cấu SXNN có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển kinh tế nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng, nó được xem là xuất phát điểm của quá trình chuyển dịch CCKT của mỗi quốc gia.
Chuyển dịch CCKT nông nghiệp là quá trình chuyển dịch các nguồn lực trong nông nghiệp nhằm gia tăng sản lượng của các phân ngành [6, tr. Quá trình này trước hết được thể hiện ở sự thay đổi chủng loại và tỉ lệ các loại cây trồng, vật nuôi nhằm khai thác tốt hơn các điều kiện sản xuất của vùng. Thực chất của chuyển dịch CCKT nông nghiệp là hoạt động nhằm đa dạng hóa sinh học, đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội. Sự phát triển với cơ cấu và tốc độ khác nhau giữa các phân ngành của nông nghiệp tạo nên sự chuyển dịch CCKT nông nghiệp.
Trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, CCKT nông nghiệp sẽ chuyển dịch nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng của xã hội. Sự chuyển dịch này còn là điều kiện cần và đủ cho sự phát triển bền vững nông nghiệp.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1.1 Đặc trưng của cơ cấu kinh tế nông nghiệp CCKT nông nghiệp như thế nào và xu hướng chuyển dịch của nó ra sao là phụ thuộc và chịu sự chi phối của những điều kiện KT – XH, những điều kiện và hoàn cảnh tự nhiên nhất định. Vì thế, đặc trưng của CCKT nói chung và CCKT nông nghiệp nói riêng mang tính khách quan, tính lịch sử - xã hội và luôn vận động, biến đổi, phát triển gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Sự hình thành và biến đổi của CCKT nông nghiệp phản ánh sự tác động qua lại của nhiều nhân tố, các nhân tố đó gắn bó với nhau tạo thành một hệ thống các mối quan hệ tác động hết sức đa dạng và phức tạp, mỗi nhân tố đóng một vai trò nhất định.
Có thể phân thành hai nhóm nhân tố: nhóm nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên và nhóm nhân tố thuộc điều kiện KT - XH.2 Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu kinh tế nền nông nghiệp Trong những năm gần đây, Đảng và chính quyền các cấp cả ở Trung ương và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có nhiều chính sách mới liên quan đến ngành nông nghiệp; trong đó, có các chính sách về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chủ trương khuyến khích các doanh nghiệp tham gia các chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng sản phẩm nông nghiệp và đặc biệt là kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng, quy hoạch ngành thủy lợi, quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật… Những chủ trương, chính sách này đòi hỏi ngành nông nghiệp phải có sự thay đổi toàn diện để đáp ứng yêu cầu sản xuất lớn phục vụ xuất khẩu và liên kết trong sản xuất. Luan van 15 Việt Nam đã đạt được khá nhiều thành tựu đáng ghi nhận trong quá trình hội nhập quốc tế; thị trường tiêu thụ nông sản cả trong nước và quốc tế ngày càng được mở rộng; tuy nhiên, các thị trường tiêu thụ nông sản ngày càng yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm, trong đó đặc biệt là yêu cầu về an toàn thực phẩm, đòi hỏi người sản xuất không chỉ phải thay đổi phương hướng sản xuất, quy trình sản xuất mà còn phải thay đổi cả về tư duy và hình thức tổ chức sản xuất nhằm đa dạng hóa và nâng cao chất lượng bảo đảm vệ sinh an toàn và có thể truy xuất nguồn gốc sản phẩm.