Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁN PHÁ GIÁ, CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Khái niệm và bản chất của bán phá giá 1.1 Khái niệm về bán phá giá Một sản phẩm bị coi là bán phá giá nếu như giá xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường. Trong đó: Sản phẩm tương tự là sản phẩm giống hệt, tức là sản phẩm có tất cả các đặc tính giống với sản phẩm đang được xem xét, hoặc trong trường hợp không có sản phẩm nào như vậy thì là sản phẩm khác mặc dù không giống ở mọi đặc tính nhưng có nhiều đặc điểm gần giống với sản phẩm đang được xem xét. Trong trường hợp không có sản phẩm tương tự được bán trong nước theo các điều kiện thương mại thông thường tại thị trường nước xuất khẩu hoặc trong trường hợp việc bán trong nước đó không cho phép có được sự so sánh chính xác do điều kiện đặc biệt của thị trường đó hoặc do số lượng hàng hóa quá nhỏ, biên độ bán phá giá sẽ được xác định thông qua so sánh với mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được xuất khẩu sang một nước thứ ba thích hợp, với điều kiện là mức giá có thể so sánh được này mang tính đại diện, hoặc được xác định thông qua so sánh với chi phí sản xuất tại nước xuất xứ hàng hóa cộng thêm một khoản hợp lý chi phí quản lý, chi phí bán hàng, các chi phí chung và lợi nhuận. Theo khái niệm này, có thể xem xét việc đánh thuế chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của một nước đến một quốc gia khác nếu xét thấy: + Giá xuất khẩu thấp hơn giá hàng hoá tương tự ở thị trường nước xuất khẩu + Giá xuất khẩu thấp hơn giá trị sản xuất.
+ Giá xuất khẩu sang nước tiến hành điều tra chống bán phá giá thấp hơn giá xuất khẩu hàng hoá đó sang thị trường nước khác. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 (Theo Điều 2.2 Hiệp định về chống bán phá giá của WTO, xem thêm phần Phụ lục 1) 1.2 Bản chất của bán phá giá Hiện tượng bán phá giá có nguồn gốc khá sớm trong thực tiễn thương mại quốc tế. Mặc dù còn có những quan điểm khác nhau, song pháp luật các nước đều coi đây là một trong những hành vi thương mại không lành mạnh hay không công bằng của hàng hóa nhập khẩu. Tuy nhiên, một cá nhân hay một tổ chức chỉ bị kết luận là có bán phá giá nếu có hội đủ hai điều kiện: đang bán phá giá và mục tiêu của hành động bán phá giá là loại bỏ đối thủ cạnh tranh thể hiện cụ thể là làm thiệt hại vật chất hoặc đe dọa gây thiệt hại vật chất cho ngành công nghiệp nội địa của nước nhập khẩu.
Còn những hành động bán phá giá nhưng không nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh thì không được coi là hành vi bán phá giá (ví dụ như bán hàng giảm giá, bán hàng thanh lý, bán hàng tồn kho kém phẩm chất, bán hàng tồn kho lỗi mốt về kiển dáng, công nghệ,…). Trong thực tế, để xác định một sản phẩm có bán phá giá hay không và có gây thiệt hại vật chất hoặc đe dọa gây thiệt hại vật chất cho ngành công nghiệp nội địa của nước nhập khẩu hay không thì phải căn cứ vào: Mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được bán phá giá và tổn hại vật chất xảy ra hoặc tổn hại vật chất nghi ngờ xảy ra. + Gây tổn hại: Việc xác định tổn hại phải được tiến hành dựa trên những bằng chứng xác thực và thông qua điều tra khách quan về cả hai khía cạnh: (a) Khối lượng hàng hóa được bán phá giá và ảnh hưởng của hàng hóa được bán phá giá đến thị trường nội địa của sản phẩm tương tự. Cơ quan điều tra phải xem xét liệu hàng nhập khẩu được bán phá giá có tăng lên đáng kể hay không, việc tăng này có thể là tăng tuyệt đối hoặc tương đối khi so sánh với mức sản xuất hoặc nhu cầu tiêu dùng tại nước nhập khẩu.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 (b) Và hậu quả của việc nhập khẩu này đối với các nhà sản xuất các sản phẩm trên ở trong nước. Cơ quan điều tra phải xem xét có phải giá bán của hàng được coi là bán phá giá đã làm giảm đáng kể giá bán của sản phẩm tương tự, hoặc làm ghìm giá hoặc làm cho giá bán của sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu không thể tăng lên không? + Đe dọa gây thiệt hại vật chất: Việc xác định sự đe dọa hoặc gây thiệt hại về vật chất cũng phải được tiến hành điều tra khách quan, dựa trên các chứng cứ thực tế và không được phép căn cứ vào phỏng đoán, suy diễn hoặc một khả năng mơ hồ. Khi quyết định xem có tồn tại nguy cơ gây tổn hại vật chất hay không, cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành xem xét các nhân tố bao gồm: (a) Tỷ lệ gia tăng đáng kể hàng nhập khẩu bị coi là bán phá giá, đó là dấu hiệu cho thấy rất có khả năng hàng nhập khẩu sẽ gia tăng ở mức lớn. (b) Năng lực sản xuất của các nhà xuất khẩu đủ lớn hoặc có sự gia tăng đáng kể trong tương lai gần, đó cũng là dấu hiệu cho thấy rất có khả năng hàng nhập khẩu sẽ gia tăng ở mức lớn.
(c) Liệu hàng nhập khẩu được bán với mức giá có tác động làm giảm hoặc kìm hãm đáng kể giá trong nước và có thể làm tăng nhu cầu đối với hàng nhập khẩu thêm nữa hay không? Tuy nhiên, Không một nhân tố nào trong các nhân tố trên tự mình có thể có tính quyết định để dẫn đến kết luận nhưng tổng hợp các nhân tố trên sẽ dẫn đến kết luận sản phẩm có bán phá giá hay không và tiến hành điều tra nếu là có bán phá giá.2 Tiêu chí xác định sản phẩm tương tự và xác định biên độ phá giá 1.1 Xác định sản phẩm tương tự Việc quyết định một sản phẩm là “sản phẩm tương tự” là một yếu tố rất quan trọng trong bất kỳ một vụ việc điều tra nào, vì nó không chỉ xác định sản phẩm nào sẽ thuộc phạm vi để phân tích cho thiệt hại, mà nó còn liên quan đến xác định giá trị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 Tuy nhiên, trong thực tế điều tra, các cơ quan điều tra đã phát triển thêm một số tiêu chí mà họ áp dụng theo từng trường hợp cụ thể. Ví dụ, các thành viên của WTO đã áp dụng các tiêu chí sau: + Các đặc tính vật lý của hàng hóa; + Mức độ chuyển đổi thương mại của các sản phẩm + Các nguyên liệu thô được sử dụng trong sản xuất + Những phương thức sản xuất và công nghệ sản xuất được sử dụng trong quá trình sản xuất hàng hóa; + Những chức năng và mục tiêu sử dụng cuối cùng của hàng hóa; + Phân loại ngành công nghiệp; … 1.2 Xác định Biên độ bán phá giá Biên độ phá giá được xác định theo công thức: BĐPG = (GTTT – GXK) Biên độ phá giá có thể được tính theo giá trị tuyệt đối hoặc phần trăm theo công thức: BĐPG = (GTTT – GXK)/GXK Việc tính toán biên độ phá giá được thực hiện theo một quy trình gồm 5 bước: Bước 1: Xác định giá xuất khẩu Bước 2: Xác định giá thông thường Bước 3: Điều chỉnh GXK và GTTT về cùng một cấp độ thương mại Bước 4: So sánh GXK với GTTT sau khi đã điều chỉnh để tìm ra biên độ phá giá (tìm hệ số so sánh). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 Bước 5: Tính biên độ phá giá (nếu tính theo phần trăm) bằng phần trăm của hiệu số so sánh trên GXK. • Cách tính GTTT Trường hợp không có giá nội địa của SPTT ở nước xuất khẩu do: - SPTT không được bán ở nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông thường; hoặc - SPTT có bán ở nước xuất khẩu trong điều kiện đặc biệt; hoặc - SPTT có lượng bán ra không đáng kể (< 5% số lượng SPTT bán ở nước NK).
thì: GTTT = giá xuất khẩu SPTT sang nước thứ ba; hoặc GTTT = giá thành sản xuất + chi phí (hành chính, bán hàng, quản lý chung,…) Trường hợp SPTT được xuất khẩu từ một nước có nền kinh tế phi thị trường (giá bán hàng và giá nguyên liệu đầu vào do Chính Phủ ấn định hoặc can thiệp nhiều) thì các quy tắc trên không được áp dụng để xác định GTTT. • Cách tính GXK GXK = giá mà nhà sản xuất nước ngoài bán SPTT cho nhà nhập khẩu đầu tiên Trường hợp giá bán SPTT không tin cậy được do: - Giao dịch xuất khẩu được thực hiện trong nội bộ Công ty; hoặc - Theo một thỏa thuận đền bù nào đó thì: GXK = giá mà sản phẩm nhập khẩu được bán lần đầu tiên cho một người mua độc lập ở nước nhập khẩu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 20 So sánh giá trị thông thường và giá xuất khẩu Giá xuất khẩu sẽ được so sánh một cách công bằng với giá trị thông thường. Có ba cách so sánh giá trị thông thường (GTTT) và giá xuất khẩu (GXK) Cách 1: so sánh GTTT bình quân gia quyền với GXK bình quân gia quyền của tất cả các giao dịch của từng nhà sản xuất, xuất khẩu.
Cách 2: so sánh GTTT và GXK của từng giao dịch (hoặc của các giao dịch thực hiện trong cùng một ngày hoặc gần như trong cùng một ngày). Cách 3: so sánh GTTT bình quân gia quyền với GXK của từng giao dịch nếu cơ quan có thẩm quyền cho rằng có sự chênh lệch đáng kể về cơ cấu GXK giữa những người mua hoặc thời điểm khách nhau và có giải thích chính thức về việc tại sao việc sử dụng hai cách trên không tính đến các khách biệt trên một cách hợp lý. Khi so sánh GTTT và GXK cần đảm bảo một số các nguyên tắc sau: 9 So sánh trong cùng cấp độ thương mại 9 Hai loại giá này phải được xác định tại cùng thời điểm .