CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CẢI TẠO ĐÔ THỊ VÀ CẢI TẠO Ô PHỐ 1. Tổng quan về cải tạo đô thị trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tổng quan về cải tạo đô thị trên thế giới Trong thời kỳ phát triển công nghiệp của các nước trên thế giới, tại các đô thị trên thế giới ở các khu vực đô thị cũ đã trải qua nhiều giai đoạn tái thiết, cải tạo. Điển hình là sự tái phát triển Paris bắt đầu từ năm 1853 dưới sự chỉ đạo của Nam tước Haussmann bằng việc mở các đại lộ và dỡ bỏ các công trình xuống cấp.
Việc đổi mới Paris của Haussmann được cho là dự án CTĐT quy mô lớn đầu tiên được thực hiện. Tuy nhiên, Hoa Kỳ là một trong những quốc đi đầu trong việc phát triển các chương trình quốc gia về CTĐT. Nhìn chung, từ giữa thế kỷ XIX sang thế kỷ XX, các đô thị thế giới được cải tạo chủ yếu để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và sự phát triển của chủ nghĩa đế quốc, để chấn hưng đô thị sau giai đoạn khủng hoảng kinh tế 1929- 1993; và tái thiết đô thị sau các cuộc chiến tranh thế giới 1941-1918 và 1939- 1945. Vào nửa sau thế kỷ XX, chế độ thực dân chấm dứt, khoa học công nghệ tiến bộ nhanh, nhiều nước công nghiệp mới xuất hiện, đô thị phát triển mạnh mẽ.
Nhiều khu vực nhà máy và khu công nghiệp trở nên không còn phù hợp hoặc nằm trong trung tâm các đô thị do quá trình phát triển đô thị lan tỏa, nhiều khu vực cảng hàng không và cảng biển không còn đáp ứng nhu cầu thực tiễn, hạ tầng đô thị bị quá tải, sự gia tăng nhanh chóng của phương tiện cá nhân dẫn đến quá tải hệ thống giao thông. Trong thời gian từ năm 1990 trở lại đây, xu thế phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và chất lượng cuộc sống được coi trọng nên khía cạnh tinh thần, bản sắc văn hóa, vấn đề môi trường và công bằng xã hội được nâng cao và các yếu tố đó đã chi phối việc CTĐT. Vai trò CTĐT được các đối tượng (chính quyền, người dân, doanh nghiệp…) được chia sẻ và phân công hợp tác. Tại một số nước phát triển trong những năm gần đây, CTĐT có xu hướng thực hiện theo dạng phát triển cộng đồng, khuyến khích chỉnh trang thay vì phá 12 dỡ, thành lập các tổ chức liên kết giữa chủ sở hữu và nhà đầu tư để thực hiện, thực hiện hợp tác công tư… [34].
Cách tiếp cận CTĐT trên thế giới rất đa dạng và đối với mỗi quốc gia, từng thời kỳ đều có cách tiếp cận riêng. Tuy nhiên, có thể tóm lược gồm 03 dạng chính gồm: (1) Tái thiết đô thị; (2) Phục hồi đô thị; (3) Tích hợp giữa tái thiết và phục hồi đô thị [33].1: Bảng tổng hợp cách tiếp cận CTĐT trên thế giới qua các thời kỳ (Nguồn tác giả, 2020) Tái thiết đô thị bao gồm việc phá bỏ các tòa nhà hiện hữu và sử dụng đất để thực hiện dự án mới. Cách tiếp cận này thường được áp dụng cho các khu vực có công trình xây dựng đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng và không có giá trị bảo tồn. Tại một số quốc gia, việc tái thiết đô thị và xây dựng các công trình cao cấp hơn sẽ đẩy người dân lao động ra ngoài khu vực trung tâm.
Do đó xáo trộn cuộc sống của cộng đồng dân cư, giảm cơ hội việc làm. Cách tiếp cận này giúp thay đổi bộ mặt đô thị, cải tạo điều kiện hạ tầng, tuy nhiên có thể mang lại chi phí xã hội và môi trường cao. Việc phá hủy các công trình kiến trúc là một trong những vấn đề phức tạp của phương pháp tái phát triển. Một số công trình tuy chưa được công 13 nhận là di tích, di sản, nhưng có thể là những dấu mốc lịch sử cho một quá trình phát triển của đô thị.
Việc giải phóng mặt bằng đã phá hủy không chỉ các công trình xây dựng cũ mà còn là một hệ thống xã hội hoạt động. Ở phần lớn các nước phương Tây, việc tái phát triển theo cách tiếp cận như trên gần như không được áp dụng. Tuy nhiên, ở nhiều nước đang phát triển, tái phát triển vẫn được coi là cách khả thi để cải thiện điều kiện nhà ở và hiện đại hóa khu vực nội thành. Phục hồi đô thị là phương pháp dựa trên bảo tồn, sửa chữa, và khôi phục lại môi trường tự nhiên và nhân tạo của khu phố hiện có.
Phục hồi chức năng được áp dụng cho các khu vực mà các công trình có cấu trúc tốt nhưng đã bị xuống cấp. Sự tham gia của cộng đồng là một nội dung quan trọng các giai đoạn của quá trình phục hồi. Tại một số nước, cộng đồng dân cư tự tổ chức thành các hiệp hội khu vực để vận động các chính quyền địa phương cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và tài chính và cải thiện các dịch vụ công cộng. Việc bảo đảm quyền sở hữu đất và sở hữu nhà là những cách khuyến khích cộng đồng trong việc chủ động cải tạo, nâng cấp chất lượng không gian sống của mình.
Thông qua quá trình cải tạo cộng đồng dân cư ngày càng gắn bó và phát triển. Tuy nhiên, việc phục hồi đô thị là một quá trình phức tạp và tốn thời gian, khó thực hiện hơn là tái phát triển. Việc tìm được sự đồng thuận, thống nhất của cộng đồng yêu cầu người dân có trình độ tri thức và điều kiện kinh tế tương đối tốt và có ý thức trách nhiệm cao với cộng đồng. Đồng thời việc phục hồi đô thị sẽ khó khăn trong việc cấu trúc lại đô thị đối với các đô thị có lịch sử phát triển tự phát trong giai đoạn trước.
Khó khăn trong việc xây dựng bổ sung thêm cơ sở hạ tầng mới cho các khu phố cũ với mật độ xây dựng cao. Cách tiếp cận kết hợp giữa tái thiết và phục hồi dựa trên sự kết hợp các khía cạnh tốt nhất của cả hai phương pháp tiếp cận. Cách tiếp cận này sẽ lưu giữ được những gì cần bảo tồn và có cơ hội cho việc phát triển các công trình mới với kiến trúc đương đại phù hợp với điều kiện thực tế, làm phong phú thêm vẻ ngoài của TP cổ. Do đó, phương pháp tích hợp được nhiều quốc gia 14 lựa chọn.
Tuy nhiên, đối với nhiều nhà phát triển và chính quyền địa phương, tích hợp vẫn là một quá trình tốn thời gian, ít lợi nhuận hơn so với tái phát triển. * Nhận xét: Tại các quốc gia phát triển trong quá trình phát triển và CTĐT đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và đã có nhiều mô hình được kiểm chứng qua thực tế và được tổng kết đánh giá. Hầu hết trong các giai đoạn phát triển “nóng” việc cải tạo các khu ở thường sử dụng phương pháp tiếp cận phá dỡ và tái thiết. Việc phục hồi đô thị tuy bảo tồn được các giá trị kiến trúc và văn hóa của cộng đồng, tuy nhiên chủ yếu phải dựa vào nguồn nội lực của người dân đang sinh sống tại khu vực này.
Phương pháp này phù hợp với việc cải tạo các khu dân cư lâu đời, có giá trị lịch sử. Hiện nay các nước chủ yếu lựa chọn mô hình tích hợp giữa phục hồi và tái thiết, hạn chế phá vỡ cộng đồng đồng thời tạo không gian xây dựng các công trình mới. Đây cũng là những kết quả rất hữu ích trong việc định hướng CTĐT tại Việt Nam.1 Cách tiếp cận cải tạo đô thị ở Hoa Kỳ Những dự án CTĐT lớn đầu tiên tại Hoa Kỳ được thực hiện theo phong trào “Công viên Mỹ” và “thành phố đẹp”, vào cuối thế kỷ XIX cả hai phong trào được đưa ra nhằm khắc phục sự suy thoái môi trường do sự kết hợp của đô thị hóa và công nghiệp hóa. Cả hai phong trào đều tập trung vào việc chuyển đổi các trung tâm đô thị thông qua việc tạo ra các công viên đô thị và xây dựng các tòa nhà công cộng đồ sộ.
Trong những năm 1930, là thời kỳ giải tỏa các khu ổ chuột và khu nhà ở thu nhập thấp để xây dựng các chung cư cao tầng. Chính phủ Liên bang đã đề ra Đạo luật về Nhà ở năm 1949. Chương trình CTĐT được thiết kế để loại bỏ khu ổ chuột bằng cách phá hủy các công trình cũ và xây dựng những công trình mới. Chương trình CTĐT có ba mục tiêu chính: phòng chống tái hình thành các khu ổ chuột; phục hồi cấu trúc khu ở và vùng lân cận; tái phát triển các cấu trúc khu ở và vùng lân cận (Colborn, 1963).
Tuy nhiên, các nhà đầu tư tư nhân không muốn tham gia do các dự án 15 này không sinh lời nhiều, thời gian thực hiện lâu. Kết quả là, CTĐT vẫn chủ yếu bao gồm giải phóng mặt bằng và tái phát triển khu ổ chuột. Chương trình CTĐT cũng bộ lộ rất nhiều hạn chế. Trong đó nhiều nhất là việc phá hủy các cộng đồng dân cư nghèo, các dự án quá ít quan tâm đến mối quan hệ xã hội.
Kết quả là nhiều ngôi nhà bị phá hủy hơn so với thực tế được xây dựng và chủ yếu là các căn hộ cho thuê giá thấp đã bị phá hủy thay thế bằng giá thuê cao, dẫn đến người nghèo không thuê được nhà ở, mặc dù điều kiện của khu ở đã được tăng lên. Chương trình CTĐT được sửa đổi vào năm 1954 với mục tiêu chính là để tạo ra lợi nhuận chứ không phải cải thiện khu ổ chuột làm cho việc CTĐT trở nên hấp dẫn hơn đối với những người đầu tư tư nhân. Nguồn kinh phí các quỹ chương trình dần dần chuyển sang hỗ trợ phục hồi hơn phá dỡ và tái thiết.1: Sơ đồ quá trình thay đổi cách tiếp cận CTĐT tại Hoa Kỳ (Nguồn tác giả, 2020) Vào những năm 1960, với việc PTĐT lan rộng ngoại thành làm trầm trọng thêm các vấn đề của TP và việc cải thiện các điều kiện đô thị cũ là rất cần thiết. Các chương trình quy mô nhỏ được khuyến khích lập kế hoạch toàn diện hơn cho việc tái phát triển.
Chương trình Mô hình TP, được khởi xướng vào năm 1966, nhằm cung cấp nhà ở thông qua xây dựng lại cơ sở hạ tầng và chú trọng hơn đến việc đổi mới xã hội. Phục hồi đô thị nổi lên trong những năm 1970 như là cách tiếp cận chính để CTĐT. Mục tiêu chính là bảo tồn khu dân cư và phục hồi nhà ở, nó hạn chế chuyển và làm gián đoạn sinh hoạt của cộng đồng. Đến nay, việc cải tạo nhà ở đã trở thành hoạt động chính trong việc CTĐT ở Hoa Kỳ.