đặt vấn đề QLBVR trong hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 4001. Hiện nay, trên thế giới đã có bộ tiêu chuẩn quản lý bền vững cấp quốc gia như: Canada, Thụy Điển, Malaysia, Indonesia,… và cấp quốc tế như tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal. Hội đồng quản trị rừng (FSC) và tổ chức gỗ nhiệt đới đã có bộ tiêu chuẩn “những tiêu chí và chỉ báo quản lý rừng (P&C)” đã được công nhận và được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Các tổ chức cấp chứng chỉ rừng đều dùng bộ tiêu chí này để đánh giá tình trạng quản lý rừng và xét cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững cho các chủ rừng.
Tháng 8/2018, các nước trong khu vực Đông nam Á đã họp hội nghị lần thứ 18 tại Hà Nội để thỏa thuận về đề nghị của Malaysia xây dựng bộ tiêu chí và chỉ số về QLBVR ở vùng ASEAN (viết tắt là C&I ASEAN). Thực chất C&I của ITTO, bao gồm 7 tiêu chí và cũng chia làm 2 cấp quản lý là cấp quốc gia và cấp đơn vị quản lý. Hiện nay, ở các nước đang phát triển, khi sản xuất nông lâm nghiệp còn chiếm vị trí quan trọng đối với người dân nông thôn, miền núi, thì quản lý rừng theo hình thức phát triển lâm nghiệp xã hội đang là một trong những mô hình được đánh giá cao trên các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. 6 Với mục đích quản lý bền vững, các khu bảo vệ (protected areas) được thành lập ngày càng nhiều, nhiều quốc gia trên thế giới đã quan tâm đến việc quản lý bền vững các khu bảo vệ.
Nhiều chính sách và giải pháp được đưa ra để áp dụng quản lý rừng bền vững. Năm 1996, tại Vườn quốc gia Bwindi Impenetrable và Mgahinga Gorilla thuộc Uganda. Wild và Mutebi đã nghiên cứu giải pháp quản lý, khai thác bền vững một số lâm sản và quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên giữa ban quản lý vườn và cộng đồng dân cư. Trong báo cáo “Hợp tác quản lý với người dân ở Nam Phi – phạm vi vận động” của Moenieba Isaacs và Najma Mohamed (2000) đã nghiên cứu và đưa ra giải pháp quản lý tài nguyên thiên bền vững tại vườn quốc gia Tichtersveld chủ yếu dựa trên hương ước (Contractual Agrement) quản lý bảo vệ tài nguyên, trong đó người dân cam kết bảo vệ ĐDSH trên địa phận của mình còn chính quyền và ban quản lý hỗ trợ người dân xây dựng hạ tầng và cải thiện các điều kiện kinh tế - xã hội khác.
Tại vườn quốc gia Kruger của Nam Phi (2000), nhằm bảo vệ tài nguyên bền vững, Chính phủ đã trao quyền sử dụng đất đai, chia sẻ lợi ích du lịch cho người dân, ngược lại người dân phải tham gia quản lý và bảo vệ tài nguyên tại Vườn quốc gia. Theo Shuchenman (1999), tại Vườn quốc gia Andringitra cỉa Madagascar, để thực hiện quản lý rừng bền vững, chính phủ đảm bảo cho người dân được quyền chăn thả gia súc và khai thác tài nguyên rừng phục hồi để được sử dụng tại chỗ, cho phép giữ gìn những tập quán truyền thống khác như có thể giữ gìn các điểm thờ cúng thần rừng. Ngược lại, người dân phải đảm bảo tham gia về sự ổn định của các hệ sinh thái trong khu vực. Theo báo cáo của Oli Krishna Prasad (1999), tại Khu bảo tồn Hoàng gia Chitwan ở Nepan, để quản lý rừng bền vững, cộng đồng dân cư vùng đệm được tham gia hợp tác với một số bên liên quan trong việc quản lý tài nguyên vùng đệm phục vụ cho du lịch.
Lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài 7 nguyên là khoảng 30-50% thu được từ du lịch hàng năm sẽ được đầu tư trở lại cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng. Các mô hình quản lý bền vững các khu bảo vệ được nêu trên đã góp phần quản lý tài nguyên thiên nhiên. Chúng đã đưa ra được một số chính sách như chia sẻ lợi ích, hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội … và một số giải pháp như đồng quản lý, quản lý có sự tham gia của người dân, … Tuy nhiên, các mô hình trên chỉ phù hợp với một số quốc gia và một số khu bảo vệ có tiềm năng du lịch, tài nguyên, đất đai phù hợp. Những nghiên cứu quản lý rừng ở Việt Nam Là một nguồn tài nguyên quan trọng, rừng ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và đời sống kinh tế nói chung của khoảng một 1/3 dân số của cả nước.
Nó không chỉ cung cấp những sản phẩm phục vụ sinh hoạt hàng ngày như gỗ, củi, thực phẩm, dược liệu … mà còn cung cấp những sản phẩm phục vụ nhu cầu công nghiệp, thủ công nghiệp và xuất khẩu. Ngoài ra, do phân bố ở những vùng sinh thái nhạy cảm như các vùng đầu nguồn rộng lớn, các vùng ngập mặn, các vùng sình lầy,… rừng còn là một trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến môi trường của đất nước. Nó góp phần quan trọng vào việc chống lại sự biến đổi của khí hậu, điều tiết nguồn nước, giảm tần suất và cường độ phá hoại của các thiên tai như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng… Sự thất bại của công tác quản lý rừng và tài nguyên đất đai vùng đầu nguồn trong những thập kỷ qua đã làm Việt Nam mất đi hàng triệu hecta rừng và là nguyên nhân chủ yếu gây ra những biến đổi khí hậu, gia tăng tần suất, mức độ thiệt hại của hạn hán, lũ lụt. Hàng năm, nhà nước phải đầu tư hàng nghìn tỷ đồng để củng cố đê điều chống lũ.
Mất rừng là nguyên nhân chính gây nên sự sói mòn mạnh và sự hoang hóa diện tích đất đồi núi. Quản lý rừng không hiệu quả và thiếu quy hoạch cũng làm cho nhiều vùng đất trũng, đất ngập mặn trù phú bởi các thảm rừng tràm, rừng đước với hàng trăm loài động vật hoang dã có giá trị cao đã và đang bị thay thế bởi các vùng nuôi tôm, các rừng trồng cây công nghiệp với mức độ mặn hóa, phèn hóa ngày càng nghiêm trọng. 8 Ngoài các nguyên nhân mất rừng do sự gia tăng dân số, thiếu thốn về lương thực, phá rừng lấy đất canh tác, khai thác lâm sản quá mức, rừng Việt Nam còn bị ảnh hưởng bởi sự hủy diệt trầm trọng của hai cuộc chiến tranh kéo dài đã làm cho tài nguyên rừng bị giảm sút vì bom đạn, chất độc hóa học tàn phá nặng nề. Nếu như tỷ lệ che phủ của rừng nước ta năm 1945 là 43% thì đến năm 1976 chỉ còn 33,8%.
Tỷ lệ che phủ thấp nhất là vào năm 1995 với 28,2%. Trong những năm gần đây, sự nỗ lực của nhà nước với những chính sách đổi mới, những chương trình trọng điểm quốc gia như Dự án 327, chương trình 661, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng bền vững theo Quyết định số 886/QĐ-TTg,. đã làm cho diện tích rừng tăng lên một cách rõ rệt. Đến năm 2000, tỷ lệ che phủ rừng của cả nước đã nâng lên 33,2% và đến cuối năm 2020 là 42,01% (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2001 và năm 2021).
Trước những biến đổi mạnh mẽ của môi trường và hiểm họa sinh thái có thể xảy ra thì việc quản lý rừng bền vững ngày càng trở nên quan trọng. Phần lớn các chương trình, dự án quốc tế hỗ trợ ngành lâm nghiệp hiện nay đều hướng vào QLBVR. Những chương trình phát triển lâm nghiệp lớn của Nhà nước như chương trình 327, 661, 886, … đều xem QLBVR là một trong những mục tiêu quan trọng. Lâm nghiệp đang trở thành ngày ngành kinh tế phát triển không chỉ nhờ vào khả năng cung cấp hàng hóa lâm sản mà còn nhờ vào khả năng các hàng hóa và dịch vụ về môi trường đáp ứng yêu cầu trong nước và quốc tế.
Theo tài liệu trong chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp, trước năm 1945 quản lý lâm nghiệp được tổ chức theo Hạt. Ranh giới Hạt lâm nghiệp phụ thuộc nhiều vào ranh giới hành chính tỉnh, huyện mà còn là đơn vị quản lý nhà nước trong một lãnh thổ có rừng, có chức năng thừa hành pháp luật. Trong thời kỳ này, toàn bộ rừng nước ta là rừng tự nhiên đã được chia theo các chức năng để quản lý, sử dụng như sau: 9 - Rừng chưa quản lý: Là những diện tích rừng ở những vùng núi hiểm trở, dân cư thưa thớt, nhà nước thực chất chưa có khả năng quản lý, người dân được tự do sử dụng lâm sản đang ở mức tự cung cấp, lâm sản chưa trở thành hàng hóa. - Rừng mở để kinh doanh: Là những diện tích rừng ở những vùng có dân cư và đường giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển lâm sản.
Những diện tích rừng này được chia thành các đơn vị như khu, từ khu được chia thành các lô khai thác và theo chu kỳ, sản lượng do hạt trưởng quản lý, đấu thầu khai thác. - Rừng cấm: Là những diện tích rừng sau khai thác cần được bảo để tái sinh trong cả chu kỳ theo vòng quay điều chế, cũng có thể là khu rừng có tác dụng đặc biệt cần được bảo vệ. Nhìn chung, trong thời kỳ trước năm 1945 tài nguyên rừng Việt Nam khá phong phú, nhu cầu lâm sản của con người thấp, mức độ tác động của con người vào tài nguyên rừng chưa cao, vấn đề QLBVR chưa được đặt ra. Theo số liệu thống kê tài nguyên rừng khu vực Đông Dương, diện tích rừng nước ta vào năm 1986 còn khoảng 14,3 triệu hecta, tương đương độ che phủ 43%.
Từ sau khi hòa bình lập lại rừng được quy hoạch thành 3 chức năng để quản lý sử dụng đó là rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Tổ chức quản lý sử dụng của 3 loại rừng được hình thành và phát triển từ năm 1986. Trong giai đoạn này, hoạt động của ngành lâm nghiệp đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Ngay sau khi hòa bình lập lại, toàn bộ diện tích rừng và đất rừng ở miền bắc được quy hoạch vào các lâm trường quốc doanh.
Nhiệm vụ chủ yếu khai thác lâm sản để phục vụ cho nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế và của nhân dân, việc xây dựng và phát triển vốn rừng tuy có đặt ra nhưng chưa được các đơn vị sản xuất kinh doanh lâm nghiệp quan tâm đúng mức. Cùng với mức độ tăng nhanh về dân số, tình trạng chặt phá rừng tự 10 nhiên lấy đất sử dụng canh tác nông nghiệp, lấy các sản phẩm gỗ, củi và các lâm sản khác diễn ra nghiêm trọng hơn. Những hình thức quản lý và sử dụng tài nguyên rừng nước ta bị tàn phá một cách nặng nề.