CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Giới thiệu về đất ngập nước và rừng ngập mặn Đất ngập nước Trên thế giới, có khá nhiều định nghĩa khác nhau về đất ngập nước. Tuy nhiên, hầu hết các định nghĩa đều đề cập đến các yếu tố địa mạo, thủy văn, đất, thực vật và coi đất ngập nước là hệ sinh thái, trong đó các yếu tố này có mối quan hệ tác động lẫn nhau, tạo ra các đặc trưng riêng biệt của mỗi vùng. Đất ngập nước là một vùng đất bị bão hòa, có độ ẩm theo mùa hoặc vĩnh viễn.
Đất ngập nước được bao phủ bằng một lớp nước tương đối nông. Đầm lầy nước ngọt và nước mặn là những ví dụ của các vùng đất ngập nước 1. Theo Công ước Ramsar (1971), đất ngập nước được định nghĩa là: “Các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả các vùng biển với độ sâu không quá 6 mét khi triều thấp”. Đất ngập nước được chia thành các hệ chính bao gồm: biển, cửa sông, ven hồ, đầm lầy.
Ngoài ra còn có các vùng đất ngập nước nhân tạo như các ao nuôi tôm cá, đất trồng nông nghiệp được tưới, các ô ruộng muối, các hồ chứa, kênh nước thải. Năm 1994, theo phụ lục 2B của Công ước Ramsar, đất ngập nước được phân chia làm ba loại. Loại 1 (biển/ven bờ) có 11 kiểu, loại 2 (các thủy vực nội địa) gồm 20 kiểu, loại 3 (các vùng đất ngập nước nhân tạo) bao gồm 10 kiểu. Tuy nhiên, các tác giả và các quốc gia sử dụng các cách phân loại khác nhau phù hợp với thực tế địa phương từng nơi.
Ví dụ, hệ thống đất ngập nước ở Australia chia thành ba vùng địa lý: đất ngập nước ven biển với 5 kiểu, đất ngập nước vùng bình nguyên với 2 kiểu và đất ngập nước nội địa với 7 kiểu (Hoàng Văn Thắng, 2006). Trong khi ở Canada, đất ngập nước lại được chia theo 2 tiêu chí rộng là đất ngập nước trên đất hữu cơ và đất ngập nước trên nền đất vô cơ với các thứ bậc gồm Lớp, Dạng và Kiểu (Hoàng Văn Thắng, 2006). Còn Hoa Kì lại tiến hành phân chia theo hệ thống thứ bậc giống nhau 5 về mặt phân loại học sử dụng để nhận dạng các loại động vật, thực vật (Hoàng Văn Thắng, 2006). Ủy ban sông Mê Kông (MRC) phân loại hệ thống đất ngập nước dựa vào hệ thống do Dugan xây dựng năm 1990.
Đặc điểm của hệ thống này là phân biệt các loại hình đất ngập nước ngọt thuộc đồng bằng ngập lũ (floodplain) và đất ngập nước thuộc đầm (palustrine) dựa vào việc phân biệt thảm thực vật (các quần xã thực vật) hoặc việc sử dụng đất khác nhau (Hoàng Văn Thắng và cộng sự, 2006). Hệ thống đất ngập nước có thể được xem là có độ đa dạng sinh học cao nhất trong tất cả các hệ sinh thái (Washington, 2001). Đất ngập nước không chỉ hỗ trợ sự sống hiệu quả, tạo độ đa dạng sinh học mà còn mang đến những giá trị kinh tế - xã hội rất lớn cho con người. Chúng giúp làm giàu cho các vùng ven biển, mang lại những giá trị thương mại về sản phẩm rừng, bảo vệ đường bờ biến và tạo điều kiện thuận lợi cho thủy hải sản phát triển ven bờ (Washington, 2001).
Bên cạnh các thành phần thủy sinh, đất ngập nước còn hỗ trợ sự sinh sống của nhiều quần thể như chim nước, động vật có vú, bò sát,. Tuy nhiên, ngày nay, diện tích đất ngập nước đang ngày càng bị suy giảm do biến đổi khí hậu và hoạt động của con người. Việc mất đất ngập nước đã khiến một số loài động vật, thực vật đi đến bờ vực của sự tuyệt chủng. Và việc không hiểu biết đầy đủ về vai trò và lợi ích của đất ngập nước là vấn đề đáng lo ngại (Ramsar, 2013).
Rừng ngập mặn Theo tiêu chí của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên hợp quốc (FAO,1998) thì một quần hợp thực vật gọi là rừng khi có tối thiểu 10% cây cối che phủ không phải là cây trồng nông nghiệp, đảm bảo cho sự tồn tại của các loài động, thực vật và duy trì điều kiện đất đai phù hợp. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định và phân chia các loại rừng còn tùy thuộc vào các tiêu chí kích cỡ cây, tầng tán, các yếu tố địa lý sinh vật… 6 Như vậy, rừng ngập mặn được hình thành bởi các cây ngập mặn nếu diện tích che phủ đạt trên 10%. Loại rừng này bao gồm các cây ngập mặn chính thống, đó là những loài cây chỉ có ở rừng ngập mặn và các loài cây gia nhập rừng ngập mặn, những loài cây có thể gặp ở cả trong rừng ngập mặn và những vùng khác nữa. Hệ sinh thái rừng ngập mặn bao gồm tất cả các thành phần hữu sinh (cây ngập mặn, nấm, tảo, vi sinh vật trên cây, dưới nước, trong đất rừng ngập mặn và kể cả trong không khí) và các thành phần vô sinh (không khí, đất và nước).
Hai thành phần này luôn tác động qua lại quy định lẫn nhau, vận động trong không gian và thời gian. Trong đó: - Thành phần vô sinh trong hệ sinh thái rừng ngập mặn ngoài ánh sáng mặt trời còn bao gồm không khí mang đặc trưng của khí hậu vùng ven biển, đất phù sa, bãi bồi ngập theo nước triều lên xuống trong ngày (nhật triều hoặc bán nhật triều), nước mặn từ biển vào, nước ngọt từ trong sông ra và nước lợ (hòa lẫn giữa nước ngọt và nước mặn). Các yếu tố về độ mặn, pH và các thành phần lý hóa của nước luôn thay đổi theo không gian và thời gian. - Thành phần hữu sinh trong hệ sinh thái rừng ngập mặn là các sinh vật biển, sinh vật nội địa và sinh vật đặc trưng trong vùng rừng ngập mặn, đặc biệt là các sinh vật di cư (chim di cư, rùa biển, bò biển…).
Ngoài ra còn có các vi sinh vật, nấm, phù du thực vật… Hệ sinh thái rừng ngập mặn được đánh giá là một trong các hệ sinh thái có năng suất sinh học cao nhất trong các hệ sinh thái. Các lá cây ngập mặn rụng xuống chiếm 50% - 70% năng suất sơ cấp dòng chảy. Đây là nguồn chất hữu cơ phân hủy và hòa tan trong chuỗi, lưới thức ăn và xuất khẩu theo dòng nước tạo nguồn dinh dưỡng cho các loài động vật, thủy, hải sản của cả một vùng ven biển rộng lớn. Hệ thống rễ cây ngập mặn có khả năng lọc và hấp thụ một số chất ô nhiễm độc hại trong đất và nước.
Bùn trầm tích rừng ngập mặn là nơi tích tụ các chất hữu cơ phân hủy tạo điều kiện 7 cho các loài sinh vật hoạt động với năng suất 0,2 – 10g C/m3/ngày. Rừng ngập mặn là nơi che chở nuôi dưỡng con non các loài thủy, hải sản là vườn ươm cho sự sống của biển (Nguyễn Hoàng Trí, 2006) Hệ sinh thái rừng ngập mặn bao gồm những cây thân gỗ mọc tại nơi giao giữa đất liền và biển, ở vĩ độ nhiệt đới và cận nhiệt đới với điều kiện độ mặn cao, thủy triều lớn, gió mạnh, nhiệt độ cao và bùn, đất yếm khí. Rừng ngập mặn tạo nên môi trường sinh thái độc đáo, tập trung phong phú các loài, làm trù phú các vùng ven biển, tăng giá trị thương mại từ lâm sản, bảo vệ đường bờ biển và hỗ trợ sự phát triển của thủy sản ven bờ (Washington, 2001). Lượng đất phù sa mà rừng ngập mặn giữ lại là nơi sinh sống của những động vật không xương sống.
Hệ sinh thái này cũng cung cấp sự sống cho cộng đồng những động, thực vật phù du và cá (Washington, 2001). Do vậy, rừng ngập mặn còn là khu vực để bảo tồn và gia tăng tính đa dạng sinh học của vùng. Theo thống kê của ISME (Mạng lưới quốc tế về hệ thống rừng ngập mặn) và ITTO (Tổ chức rừng nhiệt đới quốc tế) thông qua việc sử dụng ảnh vệ tinh để đánh giá diện tích rừng ngập mặn trên thế giới, năm 2007, diện tích này là 18. Mặc dù mang lại những giá trị kinh tế và phi kinh tế to lớn cho con người, nhưng hiện tích rừng ngập mặn vẫn đang từng ngày bị suy giảm.
Ước tính có khoảng 35% rừng ngập mặn trên thế giới bị mất do các hoạt động của con người giữa năm 1980 và 2000 (Valiela et al. 2001) và khoảng 64% rừng ngập mặn trong bán kính 25 km xung quanh các trung tâm đô thị lớn trên thế giới đang bị đe dọa bởi sự phát triển đô thị (MEA 2005). Tổng quan nghiên cứu về lượng giá giá trị kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn trên thế giới và Việt Nam 1. Các nghiên cứu về lượng giá giá trị kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn trên thế giới.
8 Có nhiều các nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá giá trị kinh tế của các dịch vụ HST RNM trên thế giới. Một số các nghiên cứu để quản lý nắm bắt được tổng giá trị kinh tế (bao gồm giá trị trực tiếp và gián tiếp), trong khi hầu hết các nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh quan trọng nhất là lượng giá các dịch vụ có giá thị trường và có sẵn dữ liệu hoặc cần thiết cho việc ra quyết định. Không có phương pháp lượng giá cụ thể có thể được coi là thích hợp cho toàn bộ các dịch vụ HST, tuy nhiên, có rất nhiều phương pháp đã được sử dụng tùy theo loại hình dịch vụ, dữ liệu sẵn có và thời gian nghiên cứu. Tuy vậy, có một vài phương pháp được sử dụng thường xuyên, ví dụ như các phương pháp tiếp cận dựa vào hàm sản xuất.
Trong một số trường hợp, do hạn chế về thời gian cũng như là chi phí, phương pháp chuyển giao lợi ích sẽ được áp dụng. Ronnback (1999) đã tính toán giá trị kinh tế theo giá trị thị trường của việc khai thác thủy sản cho các khu vực trên thế giới từ lợi ích của dịch vụ rừng ngập mặn là từ 850 đến 16.750 đô la Mỹ mỗi ha, mỗi năm, con số đó cho thấy các giá trị rừng ngập mặn có khả năng trong việc hỗ trợ ngành thủy sản. Ông cũng ước tính giá trị thị trường cho động vật giáp xác (tôm he, tôm và cua trong rừng ngập mặn), cá và động vật thân mềm sống ở rừng ngập mặn nơi cư trú từ 750 đến 11.280 đô la Mỹ mỗi ha / năm. Nghiên cứu này đã tập trung vào sản xuất thủy sản từ các hệ sinh thái RNM.