Chương III KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG “TRỊ NƯỚC, AN DÂN” CỦA LÊ THÁNH TÔNG TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY I- KẾ THỪA BIỆN CHỨNG TƯ TƯỞNG “TRỊ NƯỚC, AN DÂN” CỦA LÊ THÁNH TÔNG 1. Tính chất kế thừa biện chứng Kế thừa là quy luật phát triển tất yếu của mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Kế thừa là tất yếu khách quan và kế thừa phải qua “gạn lọc”, đó là biện chứng của sự phát triển. Triết học Mác - Lênin khẳng định, kế thừa là một trong những đặc trưng cơ bản, phổ biến của phủ định biện chứng, là sợi dây liên kết bền vững giữa cái mới và cái cũ, giữa sự vật mới và sự vật cũ trên con đường phát triển.
Đó là quá trình đấu tranh nhằm phát huy những yếu tố tích cực, tiến bộ của cái cũ, sự vật cũ để hình thành nên cái mới, sự vật mới phát triển hơn. Chu trình 108 đó diễn ra thông qua sự “lọc bỏ” cái lỗi thời, lạc hậu và giữ lại những “hạt nhân hợp lý”, để bổ sung, phát triển và tạo ra các giá trị mới đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thế giới hiện thực khách quan. Quá trình vận động, phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực khách quan là trải qua những chu trình phủ định kế tiếp nhau. Sự phủ định đó không chỉ đơn thuần là thủ tiêu, phá hủy cái cũ, mà còn là sự giữ lại và phát triển những nhân tố tích cực đã có của cái cũ để phát triển cao hơn (tức là kế thừa).
Trong quá trình phát triển, giữa cái mới và cái cũ, giữa sự vật mới và sự vật cũ luôn có mối liên hệ ràng buộc, tương tác qua lại, xâm nhập vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau và làm tiền đề của nhau. Cái cũ (sự vật cũ) khi mất đi không có nghĩa là mất đi hoàn toàn, mà trong nó vẫn được bảo tồn và giữ lại những yếu tố tích cực, những “hạt nhân hợp lý” để tạo tiền đề, cơ sở, nền tảng cho sự phát triển tiếp theo. Thực chất nó là mắt, khâu trung gian liên hệ giữa cái cũ (sự vật cũ) với cái mới (sự vật mới). Ngược lại, cái mới phát triển cao hơn không phải từ hư vô, trên mảnh đất trống không, mà là kết quả phát triển hợp quy luật từ những gì hợp lý của cái cũ; là kết quả của sự đấu tranh và kế thừa tất cả những yếu tố tích cực của cái cũ.
Muốn phát triển phải có kế thừa, vì có kế thừa mới có điều kiện, tiền đề cho sự phát triển, và ngược lại, sự phát triển sẽ làm giàu thêm và tạo ra bước ngoặt mới để bảo 109 tồn những thành quả đã được kế thừa. Khẳng định rõ điều này, trong khi tiến hành cách mạng tư tưởng và văn hóa, Đảng ta cho rằng: nền văn hóa mới vừa kết tinh và nâng lên một tầm cao mới những gì đẹp đẽ nhất trong truyền thống hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, vừa hấp thụ có chọn lọc những thành quả của văn minh loài người, những thành tựu văn hóa, khoa học hiện đại1. Nhấn mạnh về tính kế thừa biện chứng, trong tác phẩm Đường kách mệnh (1927), Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”2; “Không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ.
Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm. Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm”3. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những di sản quý báu của dân tộc và nhân loại.
Những thành tựu đạt được qua hơn 30 năm đổi mới đã chứng minh sự đúng đắn trong quan điểm của Đảng ta nhằm khai thác, kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc ________________ 1. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1982, tr. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 110 vào xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành và phát triển.
Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng - an ninh được tăng cường; văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh.
Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Quán triệt quan điểm biện chứng trong kế thừa tư tưởng “trị nước, an dân” của Lê Thánh Tông Thực trạng của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời đại.
Trong đó, chúng ta phải làm thế nào để “từ mới hiểu cũ”, “lấy xưa phục vụ nay”, tìm ra mối liên hệ giữa lịch sử với hiện tại, vận dụng có chọn lọc những thành tựu của các bậc tiền nhân trong thời đại mới, có như vậy mới phát huy được tối đa sức mạnh tiềm tàng của dân tộc trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Trong lịch sử dân tộc, Lê Thánh Tông đã có những đóng góp quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, an ninh, quốc phòng và đối ngoại, góp phần giữ yên bờ cõi trước sự xâm lăng của ngoại bang, khẳng định tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường của dân tộc. Vì vậy, giữ gìn và phát huy tư tưởng “trị nước, an dân” của Lê Thánh Tông trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một việc làm có ý nghĩa trên cả phương diện lịch sử và thực tiễn hiện nay. Về mặt nhận thức, cần quán triệt một số quan điểm khi kế thừa tư tưởng “trị nước, an dân” của Lê Thánh Tông như sau: Thứ nhất, kế thừa tư tưởng “trị nước, an dân” của Lê Thánh Tông trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp 112 quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay là sự thống nhất của hai quá trình giữ lại và lọc bỏ.
Kế thừa tư tưởng “trị nước, an dân” của Lê Thánh Tông về thực chất là một quá trình phủ định biện chứng các mặt, các yếu tố, thuộc tính và các bộ phận cấu thành của nó. Sự kế thừa đó không phải là loại bỏ hoàn toàn hay phủ định sạch trơn tư tưởng “trị nước, an dân” của Lê Thánh Tông; cắt đứt sợi dây liên hệ giữa quá khứ, truyền thống với hiện tại và tương lai của tư tưởng này; nhưng cũng không phải là kế thừa hoàn toàn tư tưởng “trị nước, an dân” của Lê Thánh Tông mà là sự kế thừa có chọn lọc, kế thừa có điều kiện với tinh thần khách quan, tôn trọng lịch sử, tức là chỉ giữ lại những “hạt nhân hợp lý”, những yếu tố còn tích cực, tiến bộ, đồng thời loại bỏ những yếu tố tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu. Vì vậy, trong nhận thức và hành động, cần có thái độ khách quan, khoa học khi đánh giá, kế thừa tư tưởng “trị nước, an dân” của Lê Thánh Tông. Tích cực đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu, thông qua điều tra, khảo sát, đánh giá, phân loại một cách có hệ thống, đồng bộ để lưu giữ những nội dung còn tiến bộ, còn phát huy được tác dụng.
Kiên quyết loại bỏ những nội dung đã trở nên lỗi thời, lạc hậu, không còn tác dụng; có một thái độ đúng mực đối với những gì cần được bảo tồn, giữ gìn. Trong hệ các giá trị tư tưởng “trị nước, an dân” của Lê Thánh Tông có rất nhiều giá trị độc đáo, đặc sắc cần phải được giữ gìn, kế thừa và phát huy như: tập trung xây dựng bộ máy nhà nước trong 113 sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả; thượng tôn pháp luật, đề cao vai trò của “pháp trị” - trị nước bằng pháp luật; phát triển kinh tế nông nghiệp; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền; mở rộng quan hệ bang giao để nâng cao uy tín của Nhà nước Đại Việt; đề cao vai trò của nhân dân, coi “dân là gốc”, từ đó tạo nên sức mạnh cố kết cộng đồng để ứng phó và vượt qua các thử thách; trọng đãi nhân tài, vun đắp nguyên khí quốc gia. Thứ hai, kế thừa, bổ sung, phát triển những “hạt nhân hợp lý” trong tư tưởng “trị nước, an dân” của Lê Thánh Tông, đồng thời, làm cho những tư tưởng đó có nội dung và hình thức mới phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới. Thực tiễn việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới đã và đang đặt ra những yêu cầu, nội dung và hình thức mới cho việc bổ sung, phát triển tư tưởng “trị nước, an dân” của Lê Thánh Tông.
Dựa trên nền tảng của những “hạt nhân hợp lý” trong tư tưởng “trị nước, an dân” của Lê Thánh Tông được giữ lại, cần bổ sung, phát triển thêm các giá trị mới, bảo đảm cho sự phát triển của hệ thống giá trị tư tưởng “trị nước, an dân” của Lê Thánh Tông luôn là một dòng chảy liên tục, không gián đoạn.