Chương 1 GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG, TÍNH TẤT YẾU VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC KẾ THỪA NHỮNG GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam 1. Khai niệm dao đức Danh từ đạo đức (Moral) và đạo đức học (Ethica), về mặt từ nguyên có ý nghĩa gần giống nhau song không phải là đồng nhất. "Ethica" xuất phát từ tiếng Hy lạp cổ là "Ethos", có nghĩa là, truyền thống, phong tục, đặc tính, loại hình, tư tưởng.
Các nhà Hy lạp cổ đại đã dùng chữ Ethos để nói đến những đặc điểm hình thành bền vững ở con người và các hiện tượng xã hội. Đạo đức là đối tượng của đạo đức học, đạo đức học nghiên cứu những quy luật hình thành, biến đổi, phát triển của đạo đức cũng như những quy tắc, chuẩn mực đạo đức của xã hội. Vậy đạo đức là gì? Có thể định nghĩa khái quát về đạo đức như sau: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tac, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điêu chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và với quan hệ xã hội, chúng được thực hiện dựa trên việc giáo dục truyền thống đạo đức và sức mạnh của du luận xã hội [23, tr. Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, một hiện tượng tinh than xã hội, đạo đức là phản ánh sự tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội, do đó đạo đức có một số chức năng chủ yếu sau đây: Chức năng điều chỉnh hành vi: Theo C.
Mác, xã hội là sự tác động lẫn nhau giữa người với người. Sự hoạt động của con người là sự hoạt động có ý thức để theo đuổi những mục đích và lợi ích khác nhau. Do vậy sự tác động lẫn nhau giữa họ có thể diễn ra nhiều chiều trong đó có những xu hướng trái ngược, mâu thuẫn nhau. Nhưng xã hội là một chỉnh thể, một hệ thống cấu trúc luôn vận động trong trạng thái cân bằng động.
Để đảm bảo cho "Cơ thể xã hội" đó có thể tồn tại và phát triển bình thường cân phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Những nguyên tắc này do con người đặt ra, nhưng không phải là sản phẩm chủ quan mà do sự đòi hỏi khách quan của sự phát triển xã hội. Những nguyên tắc đó nhằm điều chỉnh hoạt động của con người và thông qua đó mà điều chỉnh hoạt động của toàn xã hội. Con người có thể điều chỉnh hoạt động của mình và xã hội bằng nhiều phương thức như: phong tục tập quán, tôn giáo, chính trị, pháp luật, đạo đức, văn hoá nghệ thuật, khoa học trong đó đạo đức là một trong những phương thức đặc biệt ở chỗ đạo đức điều chỉnh hành vi con người trên cơ sở tự nguyện thông qua con đường bên ngoài; bằng phong tục tập quán đạo đức, bằng dư luận xã hội, bằng các chuẩn mực đạo đức, bằng nghĩa vụ đạo đức.
và con đường bên trong; sự thôi thúc của lương tâm và danh dự. Đạo đức rất gần với pháp luật và đều cùng thực hiện chức năng điều chỉnh xã hội bằng những chuẩn mực, những hệ quy phạm. Sự khác nhau giữa đạo đức và pháp luật chủ yếu là phương thức điều chỉnh. Nếu pháp luật thực hiện chức năng này dựa trên sự bắt buộc, cưỡng bức và việc thực thi pháp luật được các cơ quan quyền lực nhà nước tiến hành dựa trên các đạo luật, các văn bản pháp lý.
thì đạo đức lại thực hiện chức năng này dựa trên cơ sở tự nguyện do chính chủ thể đạo đức tiến hành. Chủ thể đạo đức, dựa trên sự nhận thức các yêu cầu, chuẩn mực, nghĩa vụ, lý tưởng đạo đức. tự nguyện thực hiện các hành vi đạo đức, tự mình chịu trách nhiệm về hậu quả của hành vi dưới sự phán xét của toà án đặc biệt "lương tam" bên trong và dư luận xã hội bên ngoài. Giữa đạo đức và pháp luật vừa có sự thống nhất vừa có sự khác biệt.
Thông thường vi phạm pháp luật thì cũng vi phạm đạo đức nhưng có khi vi phạm pháp luật mà không vi phạm đạo đức. Cũng có những trường hợp không vi phạm pháp luật mà lại vi phạm đạo đức. Sự tác động của pháp luật thường nhanh hơn tác động của đạo đức nhưng sự tác động của đạo đức thì lâu bền và sâu sắc hơn pháp luật. Chức năng phản ánh (chức năng nhận thức): Đạo đức là sự phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội, nó giúp con người nhận thức xã hội về phương diện đạo đức và giúp con người lĩnh hội tri thức đạo đức.
Chức năng giáo dục: Giáo dục đạo đức chính là làm giàu thêm tính người cho mỗi con người và cho xã hội. Một kiểu giáo dục đạo đức tiến bộ là làm sao phải thúc đẩy xã hội loài người theo hướng nhân đạo hoá. Chức năng giáo dục được thể hiện thông qua môi trường giáo dục đạo đức, ở đây môi trường đạo đức tác động đến đạo đức cá nhân bằng nhận thức đạo đức và thực tiễn đạo đức. Nhận thức đạo đức chuyển hoá đạo đức xã hội thành ý thức đạo đức cá nhân.
Thực tiễn đạo đức là hiện thực hoá nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức. Các hành vi đạo đức lặp đi lặp lại trong đời sông xã hộivà cá nhân làm cho cả đạo đức cá nhân và xã hội được củng cố ,phát triển thành thói quen, truyền thống, tập quán đạo đức. Là một hình thái ý thức, đạo đức phản ánh tồn tại xã hội nhưng không chỉ phụ thuộc vào tồn tại xã hội một cách thụ động mà nó có tác động trở lại đối với tồn tại xã hội, Ăng - Ghen cho rằng: "Sự phát triển về mặt chính trị, pháp luật, tôn giáo, văn hoá, nghệ thuật. là dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế.
Nhưng tất cả sự phát triển đó đều tác động lẫn nhau và tác động đến cơ sở kinh tế” [1, tr. Điều đó không chỉ thể hiện tính độc lập tương đối của ý thức đạo đức nói riêng và ý thức xã hội nói chung mà còn thể hiện chức năng đặc thù của ý thức xã hội, ý thức đạo đức, như là một nhân tố sáng tạo tích cực của con người ra đời sống xã hội của chính mình: Ý thức đạo đức không chỉ phản ánh hiện thực đạo đức mà còn là quan điểm về cái cần phải có theo yêu cầu nhân đạo hóa đời sống của con người, nhờ đó nó có vai trò định hướng cho sự phát triển của xã hội. Căn cứ vào các hình thái kinh tế - xã hội và vai trò của các giai cấp trong các hình thái kinh tế xã hội đó, người ta chia ra năm kiểu đạo đức: Đạo đức xã hội cộng sản nguyên thuỷ, đạo đức xã hội chiếm hữu nô lệ, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản và đạo đức vô sản. Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, các quy tắc, chuẩn mực đạo đức chỉ mới tồn tại dưới hình thức phong tục, tập quán, thói quen của cộng đồng nguyên thuỷ và dựa trên nguyên tắc hợp tác, bình đẳng song còn ở trình độ thấp.
Từ xã hội nô lệ đến xã hội tư bản chủ nghĩa đạo đức mang tính giai cấp rõ nét và những chuẩn mực, quy tắc đạo đức được xây dựng dựa trên sự bất bình đẳng, sự áp bức, bóc lột, sự nô dịch giữa người và người, với ý nghĩa đó, Angghen cho rằng đây là bước thut lùi tương đối về mặt đạo đức. Tuy nhiên, mỗi giai cấp, trong một giai đoạn đều có vai trò lịch sử nhất định đối với sự phát triển của tiến bộ xã hội. Đạo đức của xã hội chủ nô, phong kiến, tư sản đã từng đứng vai trò cách mạng so với đạo đức của các xã hội trước đó và nhờ đó, cùng với các yếu tố khác đã góp phần cải biến xã hội làm cho xã hội chuyển biến sang một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn. Tư tưởng của Mác, Ăngghen là: "Sự tồn tại của những tư tưởng cách mạng đã giả định phải có sự tồn tại của những giai cấp cách mạng” [42, tr.
Tính cách mang hay phản động của một hệ thống đạo đức chỉ tồn tại trong một giai đoạn phát triển xác định của lịch sử. Trong cuộc cách mạng tư sản "giai cấp tư sản đã đóng một vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử". Nó "Luân luân cách mạng hoá công cụ sản xuất, do đó cách mạng hoá những quan hệ sản xuất nghĩa là cách mạng hoá toàn bộ các quan hệ xã hội" [42, tr. Trong đó có quan hệ đạo đức.
Giai cấp tư sản đã thẳng tay xóa bỏ các quan hệ đạo đức phong kiến mà đặc trưng của nó là sự phụ thuộc, sự phục tùng những đấng bề trên, phụ thuộc và phục tùng vương quyền và thần quyền thay vào đó là các quan hệ đạo đức mà "Mọi người buộc phải nhìn những điều kiện sinh hoạt của họ và những quan hệ giữa họ với nhau bằng con mắt tỉnh ngộ" [39, tr. Đặc trưng của đạo đức tư sản là phát triển con người về mặt cá nhân, thúc đẩy sự phát triển của những cá nhân tư sản. Trong phạm vi đó và so với các kiểu đạo đức trước đó, đạo đức tư sản là cách mạng. Nhưng bên cạnh đó, quan hệ tư sản chủ nghĩa nói chung và quan hệ đạo đức tư sản nói riêng trong khi giải phóng một bộ người thì nó lại cũng chèn ép, áp bức, chà đạp một bộ phận người khác, bằng quan hệ trao đổi, mua bán, sự sùng bái đồng tiền và kiểu đạo dức iạnh lùng "Trả tiền ngay không tình nghĩa", nó đã thúc đẩy con người cá nhân đến cực đoan thành chủ nghĩa cá nhân, vị kỷ, kích thích những dục vọng xấu xa, bỉ ổi, những bản năng động vật ở con người.
Dưới chủ nghĩa tư bản, không chỉ giai cấp vô sản bị tha hoá bằng con đường bần cùng hoá mà chính bản thân giai cấp tư sản cũng bị tha hoá bằng con đường ngược lại. Cả hai con đường đó đều phủ định tính người, trái với tiến bộ đạo đức và kể từ khi giai cấp tư sản trở thành một giai cấp ăn bám và hưởng lạc thì nó trở nên một giai cấp "hư hỏng không thể sữa chữa được". Đạo đức của nó không thúc đẩy mà cản trở sự phát triển của nền sản xuất xã hội.