Chương 1 NHUNG VAN DE LÍ LUẬN CHUNG VE GIÁ TRI CUA CONG CHUNG DOI VOI HIEU LUC CUA GIAO DICH DAN SU 1. Lí luận chung về GDDS va điều kiện có hiệu lực của GDDS. Khái niém GDDS và vai trò, ý nghĩa của GDDS trong cuộc sống hiện nay. Khái nệm GDDS.
Ngay từ khi xã hội loài người có sự phân công lao động và xuất hiện hình thức trao đối hàng hóa thì GDDS đã hình thành và giữ một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội. Nhờ có GDDS, con người có thể thỏa mãn được nhu cầu mọi mặt của bản thân. Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của đời sống kinh tế - xã hội, vai trò của GDDS ngày càng được khang định. GDDS không chi là phương tiện pháp lí quan trọng dé đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tiêu dung của con người mà còn trở thành hoạt động thường xuyên, không thể thiếu được trong sản xuất kinh doanh.
Điều 121 BLDS 2005 quy định: “GDDS là hợp dong hoặc hành vi pháp li đơn phương làm phát sinh, thay doi hoặc cham dứt quyên, nghĩa vụ dân su.” Khái niệm GDDS được nêu tại Điều 121 là khái niệm theo kiểu liệt kê. Bang cách sử dụng tiêu chí về sự thé hiện ý chí của chủ thé bao gồm một hay nhiều phía, Điều 121 đã đưa ra một khái niệm ngắn gọn về GDDS. Từ khái niệm về GDDS được quy định tại Điều 121 BLDS 2005, có thê thấy: - GDDS bao gồm hợp dong và hành vi pháp li đơn phương. Hành vi pháp lí đơn phương được hiểu là GDDS trong đó thể hiện ý chí của một bên nhằm làm phát sinh, thay đôi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.
Ví dụ: Sự thể hiện ý chí của cá nhân trong việc lập di chúc định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác sau khi qua đời (Điều 646 BLDS 2005). Hợp đồng dân sự là “sự ¿hỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc cham dứt quyên, nghĩa vụ dân sự” (Điều 388 BLDS 2005). Hợp đồng dan sự là loại GDDS phổ biến nhất trong đời sống hàng ngày. - Hậu quả pháp lí cia GDDS là làm phát sinh, thay đổi, cham dit quyên và nghĩa vụ dân sự.
Dù là hợp đồng hay hành vi pháp lí đơn phương thì việc xác lập GDDS đều làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Tùy vào từng trường hợp cụ thé mà giao dich đó có thé làm phát sinh, thay đổi hoặc cham dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. GDDS có thể làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự. Ví dụ: Việc giao kết hợp đồng vay tiền sẽ làm phát sinh quyền của bên cho vay được nhận lại số tiền vay và nghĩa vụ trả nợ của bên vay khi đến hạn thanh toán.
GDDS cũng có thể làm thay đổi quyền và nghĩa vụ dân sự. Ví dụ: Việc hai bên trong hợp đồng thuê nhà thỏa thuận về việc thay đổi giá thuê nhà. Chính thỏa thuận về việc thay đổi đó cũng là hợp đồng và việc thay đổi trong thỏa thuận này cũng dẫn đến việc thay đổi quyền và nghĩa vụ của các bên. Bên cho thuê có quyền nhận và bên thuê có nghĩa vụ phải thanh toán một số tiền khác so với hợp đồng thuê đã giao kết lúc đầu, có thê là cao hơn hoặc thấp hơn.
Hậu quả của GDDS cũng có thé là làm cham dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Ví dụ: Hai bên trong hợp đồng cung cấp dịch vụ thỏa thuận với nhau về việc cham dứt hợp đồng cung cấp dịch vụ. Việc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng đã làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cung cấp dịch vụ đã kí kết trước đó. Có thể thấy, dù có định nghĩa như thế nào thì không thể phủ nhận được rằng: tất cả các loại GDDS đều có một đặc điểm chung là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí của chủ thé tham gia giao dịch.
Y chí của chủ thé tham gia giao dịch là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong của con người mà nội dung của nó được xác định bởi nhu cầu nhất định của bản thân họ. Ý chí của chủ thé tham gia GDDS phải được thé hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định dé các chủ thé khác biết được mục đích, động cơ và nội dung cụ thé của GDDS. Bởi vậy, GDDS không thê thiếu sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của chủ thé tham gia giao dich. Điều này không chi đúng với các GDDS có chủ thể là cá nhân, mà còn đúng với cả các chủ thể khác như pháp nhân, HGĐ, tổ hợp tác.
Bởi vì, khi xác lập GDDS, các chủ thé này đều thông qua người đại diện. Người đại diện xác lập GDDS phải thể hiện được ý chí của pháp nhân, HGĐ, tô hợp tác trong phạm vi, thâm quyền đại diện của họ [4, tr. Vai trò, ý nghĩa của GDDS trong cuộc sống hiện nay. Là hoạt động không thể thiếu được trong cuộc sống của con người, GDDS có vai trò, ý nghĩa vô cùng quan trọng.
GDDS không chỉ giúp con người thỏa mãn nhu cầu mọi mặt của đời sống mà còn là phương tiện, là động lực dé phat triển kinh tế - xã hội. Thứ nhất, GDDS là phương tiện để con người thỏa mãn các nhu cầu về vật chất lẫn tinh thần của bản thân. Xã hội ngày càng phát triển, sự phân công lao động xã hội va sự chuyên môn hóa trong sản xuất làm cho việc trao đổi sản phẩm trở nên tất yếu vì khi đó, mỗi người sẽ chỉ sản xuất một hay một vài sản phẩm trong khi họ có nhu cầu sử dụng nhiều loại sản phẩm khác nhau. Do đó, con người không thể tự mình thỏa mãn tất cả mọi nhu cầu của bản thân mà phải thông qua GDDS thì mọi nhu cầu của con người mới có thé được đáp ứng.
Thông qua GDDS, con người mới có thể xác lập quyền sở hữu đối với một tài sản, cũng có thé dem tài sản của mình cho người khác, cũng có thé dùng tài sản mình đang có để đảm bảo cho việc kí kết hợp đồng vay tiền. Nêu không có GDDS thì con người không thé ton tại và phát triển được. Thứ hai, GDDS là động lực dé phát triển kinh tế - xã hội. Mọi hoạt động kinh tế đều có sự xuất hiện của GDDS.
Không có một ngành sản xuất nào mà lại không cần đến GDDS. Hàng hóa sản xuất ra phải trở thành đối tượng của GDDS thì mới phát sinh lợi nhuận cho nhà sản xuất. Chủ lao động muốn thuê người lao động thì phải thông qua các hợp đồng lao động trong đó thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên. GDDS làm hình thành nên các loại thị trường như: thị trường bat động sản, thi trường chứng khoán, thị trường vốn.
GDDS càng sôi động thì càng thúc day sản xuất phát triển. Hiệu lực của GDDS và các diéu kiện có hiệu lực của GDDS. GDDS là hành vi pháp lí có ý thức thé hiện ý chi của các chủ thé quan hệ pháp luật dân sự nhằm xác lập, thay đổi hay cham dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. GDDS là một trong những căn cứ quan trọng và phố biến nhất làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự.
Tuy nhiên, không phải bất cứ GDDS nào được xác lập cũng đều được coi là hợp pháp. Chỉ có những GDDS được xác lập đáp ứng các điều kiện nhất định mới được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bên cạnh nguyên tắc tôn trọng quyền tự đo thỏa thuận của các bên trong GDDS thì pháp luật cũng đặt ra một số những yêu cầu tối thiểu bắt buộc các chủ thé phải tuân thủ theo, đó là các điều kiện có hiệu lực của GDDS. Điều 122 BLDS 2005 quy định về Điều kiện có hiệu lực của GDDS như sau: “1.
GDDS có hiệu lực khi có đủ các diéu kiện sau đây: a. Người tham gia giao dich có năng lực hành vi dán sự; b. Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm diéu cam của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; c. Người tham gia giao dich hoàn toàn tu nguyện; 2.
Hình thức GDDS là diéu kiện có hiệu lực của giao dich trong trường hợp pháp luật có quy định. ” Nếu như BLDS 1995 quy định về điều kiện có hiệu lực của GDDS tại Điều 131 với bốn điều kiện mang tính bắt buộc thì BLDS 2005 quy định về điều kiện có hiệu lực của GDDS tại Điều 122 theo đó, điều kiện về hình thức chỉ được coi là điều kiện có hiệu lực của GDDS nếu pháp luật có quy định. Theo Điều 122 BLDS 2005, GDDS muốn phát sinh hiệu lực pháp luật phải thỏa mãn các điều kiện sau đây: 1) Điều kiện về chủ thé tham gia. Theo quy định tại Điều 122 BLDS 2005 thì “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự ”.
Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự rất đa dạng, có thể là cá nhân, pháp nhân, HGĐ, tô hợp tác và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do 10 đó, thuật ngữ “người” được đề cập tại Điều 122 BLDS 2005 phải được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tat cả các chủ thé tham gia quan hệ pháp luật dân sự. Ban chất của GDDS là sự thống nhất ý chí và sự bày tỏ ý chí của chủ thé tham gia GDDS. Chỉ những người có năng lực hành vi dân sự mới có ý chí riêng và nhận thức được hành vi của mình dé họ có thé tự mình xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ GDDS, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các GDDS.
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được công nhận ở từng độ tuổi nhất định, qua đó có thé đánh giá việc xác lập và thực hiện GDDS của cá nhân đó có hợp pháp hay không [4, tr. Đối với các chủ thé khác: pháp nhân, tổ chức không phải là pháp nhân, HGĐ, tổ hợp tác tham gia GDDS thông qua người đại diện của họ (đại diện theo pháp luật hoặc đại điện theo ủy quyền). Người đại điện của pháp nhân, HGĐ, tổ hợp tác thực hiện các GDDS làm phát sinh, thay đổi hay cham dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân, HGD, tô hợp tác trong phạm vi nhiệm vụ của chủ thê đó được điều lệ hoặc pháp luật quy định. 2) Điều kiện về mục đích và nội dung của giao dịch.
Điều 122 BLDS 2005 quy định: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm diéu cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội ”.