Chương 1 này đã trình bày về bài toán dự đoán giá nhà đất và một số giải pháp cho bài toán tại Việt Nam, đồng thời đề xuất giải pháp mà đồ án sẽ triển khai để giải quyết bài toán. Trong chương tiếp theo, đồ án sẽ trình bày về cơ sở lý thuyết các của các công nghệ mà đồ án sử dụng. Nguyễn Lương Đức - E17CQCN01-B 6 Đồ án tốt nghiệp đại học Chương 2. Cơ sở lý thuyết CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Tổng quan về học máy Học máy là một nhánh của trí tuệ nhân tạo (AI) và khoa học máy tính, tập trung vào việc sử dụng dữ liệu và thuật toán để bắt chước cách con người học, dần dần cải thiện độ chính xác của nó. Học máy là một thành phần quan trọng của lĩnh vực khoa học dữ liệu đang phát triển. Thông qua việc sử dụng các phương pháp thống kê, các thuật toán được huấn luyện để đưa ra phân loại hoặc dự đoán, khám phá những hiểu biết quan trọng trong các dự án khai thác dữ liệu. Những thông tin chi tiết này sau đó thúc đẩy việc đưa ra quyết định trong các ứng dụng và doanh nghiệp, tác động đến các chỉ số tăng trưởng chính.
Khi dữ liệu lớn tiếp tục mở rộng và phát triển, nhu cầu thị trường đối với các nhà khoa học dữ liệu sẽ tăng lên, đòi hỏi họ phải hỗ trợ xác định các câu hỏi kinh doanh phù hợp nhất và sau đó là dữ liệu để trả lời chúng. Phân loại thuật toán trong học máy Hình 2. Sơ đồ phân loại học máy 2. Học có giám sát Học có giám sát, còn được gọi là học máy có giám sát, là một danh mục con của học máy và trí tuệ nhân tạo.
Nó được định nghĩa bằng cách sử dụng các tập dữ liệu được Nguyễn Lương Đức - E17CQCN01-B 7 Đồ án tốt nghiệp đại học Chương 2. Cơ sở lý thuyết gắn nhãn để huấn luyện các thuật toán phân loại dữ liệu hoặc dự đoán kết quả một cách chính xác. Khi dữ liệu đầu vào được đưa vào mô hình, nó sẽ điều chỉnh trọng số của nó cho đến khi mô hình được lắp một cách thích hợp, điều này xảy ra như một phần của quá trình xác nhận chéo. Học có giám sát giúp các tổ chức giải quyết nhiều vấn đề trong thế giới thực trên quy mô lớn, chẳng hạn như phân loại thư rác trong một thư mục riêng biệt từ hộp thư đến.
Học tập có giám sát sử dụng tập huấn luyện (training set) để dạy các mô hình nhằm mang lại kết quả đầu ra mong muốn. Tập dữ liệu huấn luyện này bao gồm đầu vào và đầu ra chính xác, cho phép mô hình học hỏi qua thời gian. Thuật toán đo độ chính xác của nó thông qua hàm mất mát, điều chỉnh cho đến khi sai số được giảm thiểu đến mức tối thiểu. Học có giám sát có thể được tách thành hai loại vấn đề khi khai thác dữ liệu: phân loại và hồi quy: - Phân loại (Classification): sử dụng một thuật toán để gán chính xác dữ liệu thử nghiệm thành các danh mục cụ thể.
Nó nhận ra các thực thể cụ thể trong tập dữ liệu và cố gắng đưa ra một số kết luận về cách các thực thể đó nên được gắn nhãn hoặc định nghĩa. Các thuật toán phân loại phổ biến là phân loại tuyến tính (linear classifiers), máy vectơ hỗ trợ (support vector machines - SVM), cây quyết định (decision tree), k-láng giềng gần nhất (k-nearest neighbor) và rừng ngẫu nhiên (random forest). - Hồi quy (regression): được sử dụng để hiểu mối quan hệ giữa các biến phụ thuộc và độc lập. Nó thường được sử dụng để dự báo, chẳng hạn như doanh thu bán hàng cho một doanh nghiệp nhất định.
Hồi quy tuyến tính (linear regression), hồi quy logistic (logistical regression) và hồi quy đa thức (polynomial regression) là các thuật toán hồi quy phổ biến. Học không có giám sát Học không có giám sát, còn được gọi là học máy không giám sát, sử dụng các thuật toán học máy để phân tích và phân cụm các tập dữ liệu không được gắn nhãn. Các thuật toán này phát hiện ra các mẫu hoặc nhóm dữ liệu ẩn mà không cần sự can thiệp của con người. Khả năng phát hiện ra những điểm tương đồng và khác biệt trong thông tin khiến nó trở thành giải pháp lý tưởng để phân tích dữ liệu khám phá, phân khúc khách hàng và nhận dạng hình ảnh.
Các mô hình học tập không giám sát được sử dụng cho ba nhiệm vụ chính: phân cụm, liên kết và giảm kích thước: Nguyễn Lương Đức - E17CQCN01-B 8 Đồ án tốt nghiệp đại học Chương 2. Cơ sở lý thuyết - Phân cụm (Clustering): một kỹ thuật khai thác dữ liệu để nhóm dữ liệu không được gắn nhãn dựa trên những điểm tương đồng hoặc khác biệt của chúng. Ví dụ: các thuật toán phân cụm K-mean gán các điểm dữ liệu tương tự thành các nhóm, trong đó giá trị K đại diện cho kích thước của nhóm và mức độ chi tiết. Kỹ thuật này rất hữu ích cho việc phân đoạn thị trường, nén hình ảnh, v.
- Kết hợp (Association): một loại phương pháp học không giám sát khác sử dụng các quy tắc khác nhau để tìm mối quan hệ giữa các biến trong một tập dữ liệu nhất định. Các phương pháp này thường được sử dụng cho các công cụ phân tích và đề xuất giỏ thị trường, dọc theo dòng khuyến nghị “Khách hàng đã mua mặt hàng này cũng đã mua”. - Giảm kích thước (Dimensionality reduction): một kỹ thuật học tập được sử dụng khi số lượng đối tượng (hoặc kích thước) trong một tập dữ liệu nhất định quá cao. Nó làm giảm số lượng đầu vào dữ liệu đến một kích thước có thể quản lý được trong khi vẫn bảo toàn tính toàn vẹn của dữ liệu.
Thông thường, kỹ thuật này được sử dụng trong giai đoạn tiền xử lý dữ liệu, chẳng hạn như khi bộ mã tự động loại bỏ nhiễu khỏi dữ liệu trực quan để cải thiện chất lượng hình ảnh. Học bán giám sát Học tập bán giám sát là một phương pháp kết hợp giữa học tập có giám sát và không giám sát. Trong quá trình huấn luyện, nó sử dụng một tập dữ liệu có nhãn nhỏ hơn để hướng dẫn phân loại và trích xuất tính năng từ một tập dữ liệu lớn hơn, không được gắn nhãn. Học bán giám sát có thể giải quyết vấn đề không có đủ dữ liệu được gắn nhãn (hoặc không đủ khả năng gắn nhãn đủ dữ liệu) để huấn luyện thuật toán học có giám sát.
Học tăng cường (Reinforcement learning) Học máy củng cố là một mô hình học máy hành vi tương tự như học có giám sát, nhưng thuật toán không được huấn luyện bằng cách sử dụng dữ liệu mẫu. Mô hình này sẽ học theo cách sử dụng thử và sai. Một chuỗi các kết quả thành công sẽ được củng cố để phát triển khuyến nghị hoặc chính sách tốt nhất cho một vấn đề nhất định. Nguyễn Lương Đức - E17CQCN01-B 9 Đồ án tốt nghiệp đại học Chương 2.
Cơ sở lý thuyết Hình 2. AlphaGo chơi cờ vây với Lee Sedol. AlphaGo nổi tiếng với việc chơi cờ vây thắng cả con người. Cờ vây được xem là có độ phức tạp cực kỳ cao với tổng số nước đi là xấp xỉ 10761, so với cờ vua là 10120 và tổng số nguyên tử trong toàn vũ trụ là khoảng 1080.
Vì vậy, thuật toán phải chọn ra 1 nước đi tối ưu trong số hàng nhiều tỉ tỉ lựa chọn, và tất nhiên, không thể áp dụng thuật toán tương tự như IBM Deep Blue (IBM Deep Blue đã thắng con người trong môn cờ vua 20 năm trước). Về cơ bản, AlphaGo bao gồm các thuật toán thuộc cả Học có giám sát và Học tăng cường. Trong phần Học có giám sát, dữ liệu từ các ván cờ do con người chơi với nhau được đưa vào để huấn luyện. Tuy nhiên, mục đích cuối cùng của AlphaGo không phải là chơi như con người mà phải thậm chí thắng cả con người.
Vì vậy, sau khi học xong các ván cờ của con người, AlphaGo tự chơi với chính nó với hàng triệu ván chơi để tìm ra các nước đi mới tối ưu hơn. Thuật toán trong phần tự chơi này được xếp vào loại học tăng cường. Thuật toán hồi quy Với yêu cầu bài toán dự đoán giá nhà, sự lựa chọn phù hợp nhất là thuật toán học máy có giám sát, cụ thể là các thuật toán hồi quy. Nguyễn Lương Đức - E17CQCN01-B 10 Đồ án tốt nghiệp đại học Chương 2.
Hồi quy tuyến tính và Gradient descent 2.1 Hồi quy tuyến tính (linear regression) Hồi quy tuyến tính được sử dụng để phân tích, dự đoán giá trị của một biến dựa trên giá trị của một biến khác. Biến muốn dự đoán được gọi là biến phụ thuộc. Biến đang sử dụng để dự đoán giá trị của biến khác được gọi là biến độc lập. Dạng phân tích này ước tính các hệ số của phương trình tuyến tính, liên quan đến một hoặc nhiều biến độc lập dự đoán tốt nhất giá trị của biến phụ thuộc.
Hồi quy tuyến tính biểu diễn phù hợp với một đường thẳng hoặc mặt phẳng giúp giảm thiểu sự khác biệt giữa các giá trị đầu ra được dự đoán và thực tế. Có những máy tính hồi quy tuyến tính đơn giản sử dụng phương pháp "bình phương nhỏ nhất" để khám phá đường phù hợp nhất cho một tập hợp dữ liệu được ghép nối. Sau đó ước tính giá trị của X (biến phụ thuộc) từ Y (biến độc lập).2 Gradient descent Gradient descent là một thuật toán tối ưu hóa được sử dụng để tìm các giá trị của các tham số của một hàm (f) để tối thiểu hóa một hàm chi phí. Gradient descent được sử dụng tốt nhất khi các tham số không thể được tính toán phân tích (ví dụ: sử dụng đại số tuyến tính) và phải được tìm kiếm bằng một thuật toán tối ưu hóa.
Regularization Phương pháp đơn giản nhất để biết được chất lượng của mô hình với dữ liệu chưa nhìn thấy bao giờ (unseen data) khi xây dựng mô hình không được sử dụng dữ liệu kiểm tra (test data) là trích từ tập dữ liệu huấn luyện ra một tập con nhỏ và thực hiện việc đánh giá mô hình trên tập con nhỏ này. Tập con này được gọi là validation set. Lúc này, tập huấn luyện là phần còn lại của tập huấn luyện ban đầu. Train error được tính trên tập huấn luyện mới này, và có một khái niệm nữa được định nghĩa tương tự như trên validation error, tức error được tính trên tập validation.