MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của phần cứng máy tính, các thuật toán máy học hay còn đƣợc biết đến với tên Machine Learning (ML), là một nhánh nhỏ của ngành Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI), ngày càng đƣợc cải tiến có khả năng xử lý các nguồn dữ liệu lớn hơn, phức tạp hơn và hoàn thiện về tốc độ tính toán lẫn độ chính xác. Máy học đang đƣợc áp dụng vào rất nhiều lĩnh vực trong đời sống nhƣ công nghệ thông tin, tài chính, kinh doanh, khai phá dữ liệu. và khí tƣợng thủy văn là một trong số đó. Lĩnh vực máy học đƣợc chia làm hai nhóm chính là học có giám sát (Supervised learning) và học không có giám sát (Unsupervised learning) đƣợc áp dụng cho các bài toán phân loại (classification) và hồi quy (regression).
Trong lĩnh vực dự báo thủy văn nói chung và dự báo xâm nhập mặn nói riêng thì các thuật toán máy học đa phần thuộc nhóm hồi quy. Cho đến nay, các nghiên cứu dự báo xâm nhập mặn thƣờng sử dụng bộ mô hình MIKE đã thu đƣợc các kết quả tƣơng đối tốt [1, 3, 4, 5, 9]. Tuy nhiên, các mô hình này cần dữ liệu đầu vào nhiều (dữ liệu địa hình, mặt cắt, công trình thủy lợi,. Bên cạnh đó việc hiệu chỉnh kiểm định cũng rất phức tạp và yêu cầu năng lực tính toán lớn.
Với những hạn chế nêu trên, các mô hình dựa vào số liệu (data-driven models) đã đƣợc phát triển. So với các mô hình tính toán dựa vào vật lý, các mô hình thống kê số liệu nhƣ ARIMA cũng đã đƣợc áp dụng nhiều vào bài toán dự báo xâm nhập mặn cho thấy hiệu suất tính toán cao hơn. Tuy nhiên, hạn chế của mô hình này là dự báo trong thời đoạn ngắn và đối với chuỗi số liệu phi tuyến tính (nonlinearity) nhƣ độ mặn thì độ chính xác chƣa cao [34]. Một phƣơng hƣớng tiếp cận mới nhằm khắc phục những nhƣợc điểm trên là các phƣơng pháp máy học.
Các mô hình ML có khả năng xử lý chuỗi số liệu phức tạp, nhiễu và phi tuyến tính mà không đòi hỏi phải có sự hiểu biết về các quá trình vật lý ẩn đằng sau. Bên cạnh đó, lƣợng dữ liệu đầu vào cho các mô 1 hình, khả năng tính toán, hiệu chỉnh và kiểm định cũng yêu cầu ở mức tối thiểu đã mang lại những kết quả khả quan. Tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), trong những năm gần đây, dƣới tác động của việc xây dựng các đập thủy điện ở thƣợng nguồn sông Mê Công, chế độ dòng chảy trong hệ thống sông suối, kênh rạch tại ĐBSCL đã có những thay đổi. Đồng thời, nƣớc biển dâng do biến đổi khí hậu (BĐKH) tại các cửa sông Cửu Long, sự hạ thấp đáy sông do khai thác cát, sụt giảm bùn cát đến do hồ chứa thƣợng nguồn trữ lại, gia tăng sử dụng nƣớc nội vùng đã và đang làm xâm nhập mặn (XNM) ngày càng lấn sâu vào trong nội đồng ảnh hƣởng lớn đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của ngƣời dân.
Tỉnh Sóc Trăng cũng không nằm ngoài những ảnh hƣởng đó. Chính vì vậy, việc xây dựng mô hình máy học để dự báo xâm nhập mặn tại trạm đo Đại Ngãi, tỉnh Sóc Trăng là nhu cầu rất cần thiết nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực do XNM gây ra. 2 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ PHƢƠNG PHÁP VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan phƣơng pháp nghiên cứu 1.
Khái niệm Dự báo thủy văn là một môn khoa học chuyên ngành, nghiên cứu về quy luật biến đổi, phát triển của các hiện tƣơng thủy văn để xây dựng các phƣơng án, phƣơng pháp, mô hình, công nghệ tính trƣớc trạng thái biến đổi các yếu tố thuỷ văn (Q, H, mặn, thủy triều,…) trên các sông, suối, hồ chứa, đầm phá, cửa sông ven biển,. nhằm phục vụ cho việc phòng tránh thiên tai, khai thác, sử dụng TNN, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng. Phân loại dự báo thủy văn Tuỳ theo tiêu chí đánh giá mà dự báo thủy văn đƣợc phân ra nhiều loại. Căn cứ vào yếu tố dự báo, thời gian dự kiến, đối tƣợng phục vụ, tính chất của dự báo hay khu vực dự báo thƣờng phân dự báo thủy văn theo các cách sau: a) Phân loại theo thời gian dự kiến: - Dự báo hạn cực ngắn (1-6 giờ): dự báo, cảnh báo khẩn cấp các hiện tƣợng thủy văn nguy hiểm (lũ quét, lũ lƣu vực nhỏ,.
- Dự báo thủy văn hạn ngắn: (ít hơn 5 ngày, tuỳ thuộc khu vực sông, ví dụ các sông miền Bắc: Sông Hồng 48 giờ, các sông khác 24 giờ, các sông miền Trung 3-24 giờ, sông Cửu Long 3-5 ngày). - Dự báo thủy văn hạn vừa (5-10 ngày) (hiện nay thƣờng gọi là dự báo hạn ngắn mở rộng). - Dự báo thủy văn hạn dài (t ≥ 1 tháng đến 1 năm). 3 - Dự báo thủy văn hạn siêu dài có thời gian dự báo trƣớc trên 1 năm.
Thƣờng loại này đƣợc sử dụng trong dự báo, nhận định về TNN theo các kịch bản BĐKH. b) Phân loại theo yếu tố dự báo: Ví dụ dự báo mực nƣớc, lƣu lƣợng, tổng lƣợng lũ, mặn, triều, nƣớc dâng do bão,. Trong đó mực nƣớc, lƣu lƣợng, tổng lƣợng, độ mặn. là yếu tố cần dự báo.
c) Phân loại theo đối tượng phục vụ: Dự báo thủy văn phục vụ phòng tránh thiên tai hoặc khai thác hồ chứa (thủy điện, nuôi trồng thủy sản,.), giao thông thuỷ, quốc phòng, xây dựng, tƣới tiêu,. d) Phân loại theo khu vực được dự báo: Dự báo thủy văn cho các sông miền núi, các sông vùng đồng bằng; Dự báo thủy văn tại một điểm (tại trạm); Lƣu vực sông; Khu vực (Nam Bộ hay Tây Nguyên),. e) Phân loại theo tính chất dự báo: Dự báo định tính (Cao, Trung bình, thấp, xu thế tăng, giảm của các đặc trƣng thuỷ văn) và dự báo định lƣợng (có trị số cụ thể). Dự báo xâm nhập mặn Xâm nhập mặn là hiện tƣợng nƣớc biển xâm nhập vào trong sông làm cho độ mặn của nƣớc sông tăng cao.
Thông thƣờng, khi nƣớc biển xâm nhập vào đất liền, lƣợng nƣớc ngọt từ những con sông từ thƣợng lƣu chảy về hạ lƣu giúp trung hòa nƣớc mặn đồng thời đẩy ngƣợc ra biển. Tuy nhiên trong những tháng mùa khô, thời tiết không có mƣa và nƣớc sông bị bốc hơi do nắng nóng khiến lƣợng nƣớc ngọt không đủ đẩy, làm hiện tƣợng xâm nhập diễn ra. Ngoài ra, còn có yếu tố gió chƣớng với triều cƣờng làm mặn xâm nhập sâu và nồng độ cao. 4 Một trong các lý do khác khiến mức độ xâm nhập mặn diễn ra với mức độ nghiêm trọng là do việc xây dựng các công trình thủy lợi ở thƣợng nguồn đƣợc thực hiện dày đặc.
Ngoài ra có hiện tƣợng nóng lên toàn cầu tác động tiêu cực đến biến đổi khí hậu gây ra các thiên tai nƣớc biển dâng cao, kéo theo hậu quả mức độ xâm nhập mặn diễn ra mạnh mẽ hơn. Trong dự báo, cảnh báo xâm nhập mặn bao gồm các yếu tố: - Độ mặn cao nhất (lớn nhất). - Thời gian xuất hiện độ mặn cao nhất. - Phạm vi chịu ảnh hƣởng độ mặn 4‰ trở lên.
Một số nghiên cứu về XNM trong nƣớc và ngoài nƣớc: Trong thời gian gần đây, việc ứng dụng khoa học công nghệ trong giám sát và đánh giá xâm nhập mặn đƣợc các nhà khoa học trong nƣớc tiến hành nghiên cứu dƣới nhiều phƣơng pháp khác nhau. Trên thế giới, ảnh hƣởng của tình trạng XNM cũng là vấn đề đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu. Bingjun Liu và cộng sự đã áp dụng mạng thần kinh nhân tạo (ANN - artificial neural network) cùng phép biến đổi wavelet để dự báo độ mặn vùng cửa sông Châu Giang, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc [11] với các chỉ số đánh giá rất tốt. Nghiên cứu đã áp dụng mô hình học máy để dự báo mặn hạn ngắn 1 – 3 ngày cho các chỉ số đánh giá RMSE và NSE tốt.
Ngoài các thuật toán thống kê và máy học, ảnh viễn thám cũng đang đƣợc nghiên cứu ứng dụng rất nhiều trong đánh giá và dự báo XNM nhƣ: Nhóm ba tác giả Mahmoud A. Shahid và Yasser R. Othman đã tiến hành nghiên cứu ứng dụng công nghệ GIS (Hệ thống thông tin địa lý) và Viễn thám vào xây dựng mô hình thành lập bản đồ đất nhiễm mặn tại Abu Dhabi, Ả Rập [25]. Sử dụng sản phẩm Viễn thám mà cụ thể là ảnh Landsat-7 5 ETM và mẫu đất thu thập dùng để xây dựng song song hai mô hình.
Kết quả so sánh thực tế có độ tin cậy là 91,2%, cho thấy khả năng ứng dụng kết hợp GIS và Viễn thám cho hiệu quả rất cao. Xâm nhập mặn có xu hƣớng ngày càng trầm trọng hơn là do rất nhiều nguyên nhân. Nhóm tác giả Trần Quốc Đạt, Nguyễn Hiếu Trung và Kanchit Likitdecharote thuộc trƣờng Đại học Cần Thơ và Đại học Chulalongkorn - Thái Lan [4] đã tiến hành nghiên cứu mô phỏng xâm nhập mặn đồng bằng sông Cửu Long dƣới tác động của nƣớc biển dâng và sự suy giảm lƣu lƣợng nƣớc từ thƣợng nguồn. Trong nghiên cứu này, xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long đƣợc mô phỏng cho những kịch bản khác nhau của mực nƣớc biển dâng và lƣu lƣợng thƣợng nguồn giảm bằng mô hình MIKE11.
Mô hình đƣợc xây dựng dựa trên cở sỡ dữ liệu của hai năm 1998 và 2005. Kết quả mô phỏng xâm nhập mặn năm 1998 đƣợc chọn kịch gốc so sánh với bốn kịch bản xâm nhập mặn vào các năm 2020 và 2030. Bốn kịch bản này đƣợc xây dựng dựa trên kịch bản CRES B2, kịch bản tăng diện tích nông nghiệp và kịch bản diện tích nông nghiệp không đổi. Hai kịch bản đầu là khi mực nƣớc biển dâng 14 cm và lƣu lƣợng thƣợng nguồn giảm 11% và 22%.
Kịch bản số ba và bốn là khi mực nƣớc biển dâng 20cm và lƣu lƣợng thƣợng nguồn giảm 15%. Kết quả mô phỏng cho thấy rằng độ mặn 2,5g/l xâm nhập 14 km sâu hơn kịch bản gốc năm 1998. Ngoài ra xâm nhập mặn cũng tác động hầu hết các dự án ngăn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2009, nhóm nghiên cứu thủy văn và môi trƣờng gồm các chuyên gia Trần Ngọc Anh, Nguyễn Tiền Giang và cộng sự [1] thuộc trƣờng Đại học khoa học tự nhiên, ĐHQGHN đã áp dụng mô hình MIKE 11 để đánh giá tình hình xâm nhập mặn trên hệ thống sông Bến Hải và Thạch Hãn cho kết quả tốt.
Việc hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy lực và lan truyền chất đƣợc thực hiện với bộ số liệu đo đạc quan trắc tháng 8 năm 2007.