chương 1, tác giả đã trình bày tổng quan về mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài, tính cấp thiết của đề tài, lược sử nghiên cứu gần đây ở trong và ngoài nước và sau đó đưa ra vấn đề nghiên cứu. Dữ liệu dự báo HV: Nguyễn Thành Danh Luận văn Thạc sĩ 7 GVHD: TS. Nguyễn Phúc Khải Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan về các phương pháp dự báo phụ tải hiện đại Dự báo phụ tải là công tác dùng dữ liệu trong quá khứ để dự đoán xu hướng thay đổi và phát triển của phụ tải nhằm đưa ra những phương án, hoạch định phù hợp.
Dự báo là hoạt động tính toán, ước lượng và đánh giá xu hướng, tốc độ tăng trưởng và nhu cầu của phụ tải được cung cấp điện từ hệ thống điện trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn [8]. Để cải thiện nhược điểm của các phương pháp dự báo phụ tải truyền thống, các nhà khoa học đã ứng dụng các phương pháp dự báo phụ tải hiện đại nhằm ngày càng nâng cao độ chính xác của dự báo phụ tải. Các phương pháp dự báo phụ tải hiện đại phổ biến ngày nay gồm: + Logic mờ (Fuzzy logic) + Mạng noron nhân tạo (Artificial Neural Network ANN) + Phép phân tích Wavelet Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của máy tính điện tử, các phương pháp học sâu xuất hiện và được áp dụng rộng rãi. Điển hình như: + Mạng niềm tin sâu (Deep Belief Network) + Mạng Neuron tích chập (Convolutional Neural Network) + Học máy trên vector hỗ trợ (Support Vector Machine) + Bộ nhớ dài – ngắn hạn (Long Short Term Memory) Bên cạnh đó, các bộ lọc tiền xử lý dữ liệu cũng đã được nghiên cứu và có những bước phát triển vượt bật như: + Bộ lọc Kalman + Bộ lọc DBSCAN Cơ sở lý thuyết HV: Nguyễn Thành Danh Luận văn Thạc sĩ 8 GVHD: TS.
Nguyễn Phúc Khải + Bộ lọc rời rạc dựa trên biến đổi Wavelet (Discrete Wavelet Transform) + Bộ lọc dựa trên phân tích thống kê (Statistical Analysis Data Filter – SADF) 2. Các yếu tố tác động đến sản lượng điện mặt trời 2. Vật liệu tế bào quang điện Mỗi vật liệu có mức năng lượng ở vùng cấm khác nhau, từ đó hiệu suất hấp thụ bức xạ cũng khác nhau. Từ giới hạn Shockley Queisser, các vật liệu được dùng làm tế bào quang điện thường có mức năng lượng Eg từ 1 đến 1,8 eV.
Ví dụ: + Si: 1,12 eV + CdTe: 1,5eV + InpP: 1,35eV + GaAs: 1,42eV Hình 2. Giới hạn Shockley Queisser đối với tế bào quang điện có một lớp tiếp giáp p – n [8] Cơ sở lý thuyết HV: Nguyễn Thành Danh Luận văn Thạc sĩ 9 GVHD: TS. Nguyễn Phúc Khải Hình 2. Hiệu suất tấm pin theo công nghệ [8] Các tấm pin mặt trời được thử nghiệm ở điều kiện thử nghiệm tiêu chuẩn (STC) là 25°C (77 ° F) và do đó vượt quá nhiệt độ đó sẽ ảnh hưởng đến sản lượng năng lượng.
Lượng năng lượng được tạo ra bởi một tấm pin mặt trời được tính bằng cách nhân dòng điện và điện áp. Dựa trên hiệu suất của nó, một tấm pin mặt trời có lượng năng lượng tối đa mà nó có thể tạo ra là: Hiệu suất = (Dòng điện tối đa x Điện áp tối đa) / công suất đầu vào mặt trời. Khi các tấm pin mặt trời của bạn tiếp xúc với nhiệt độ cao hơn, dòng điện sẽ tăng lên, trong khi điện áp sẽ giảm dẫn đến hiệu suất giảm theo. Bằng cách ảnh hưởng đến hiệu suất của các tấm pin mặt trời, nhiệt độ làm cho các tấm pin sản sinh ra ít năng lượng hơn.
Bức xạ mặt trời và nhiệt độ môi trường Bức xạ mặt trời được hiểu là các dòng vật chất và năng lượng do mặt trời phát ra. Đây là nguồn năng lượng chính cho các quá trình phong hoá, bóc mòn, vận chuyển và bồi tụ trên Trái Đất, cũng như chiếu sáng và sưởi ấm cho các hành tinh trong Hệ Mặt Trời. Cơ sở lý thuyết HV: Nguyễn Thành Danh Luận văn Thạc sĩ 10 GVHD: TS. Nguyễn Phúc Khải Dữ liệu bức xạ cho các hệ thống điện năng lượng mặt trời (hệ thống của pin quang điện) thường được biểu thị dưới đơn vị kilowatt giờ trên mét vuông (kWh/m2).
Ước tính trực tiếp về năng lượng mặt trời cũng có thể được tính bằng watt trên một mét vuông (W/m2). Sản lượng của tấm pin mặt trời phụ thuộc đáng kể vào năng lượng mặt trời hoặc bức xạ mặt trời vì nguồn năng lượng mặt trời rất thay đổi. Độ chiếu xạ thường thay đổi do thời tiết, sự thay đổi theo mùa, vị trí địa lý, thời gian trong ngày và vị trí mặt trời trên bầu trời. Các mô đun P-V nhận được cả ánh sáng trực tiếp từ mặt trời và ánh sáng tán xạ từ bầu trời, mặt đất và các vật thể lân cận.
Tuy nhiên, phần đóng góp đáng kể đến từ việc chiếu xạ trực tiếp bằng năng lượng mặt trời. Việc ước lượng bức xạ tới trở nên phức tạp khi các vật thể gần đó tạo bóng hoặc phản xạ ánh sáng mặt trời lên các mô đun P-V. Khoảng 99% bức xạ mặt trời, hay sóng ngắn, trên bề mặt trái đất nằm trong vùng từ 0,3 đến 3,0 µm, tương ứng với bước sóng giữa tia cực tím và tia hồng ngoại gần. Bên trên bầu khí quyển của trái đất, bức xạ mặt trời có cường độ xấp xỉ 1380 W/m2.
Trên bề mặt trái đất của chúng ta, cường độ bức xạ mặt trời xấp xỉ 1000 W/m2 vào một ngày quang đãng vào buổi trưa trong những tháng mùa hè (Bằng cường độ bức xạ mặt trời tại điều kiện tiêu chuẩn STC). Sự khác biệt giữa giá trị này là do sự mất mát khi truyền vào khí quyển. Bức xạ mặt trời và nhiệt độ có liên quan mật thiết đến các yếu tố thời tiết như áp suất, tốc độ gió, độ che mây, lượng mưa… nên các yếu tố thời tiết cũng ảnh hưởng đến sản lượng cũng như công suất ngõ ra của nguồn điện mặt trời. Bên cạnh đó, bức xạ mặt trời với sản lượng và công suất có mối quan hệ phi tuyến với nhau.
Tuy nhiên với xấp xỉ gần đúng thì quan hệ giữa bức xạ mặt trời và dòng ngắn mạch Isc có thể xem như là tuyến tính. Cơ sở lý thuyết HV: Nguyễn Thành Danh Luận văn Thạc sĩ 11 GVHD: TS. Nguyễn Phúc Khải Hình 2.3 thể hiện mối quan hệ tuyến tính giữa bức xạ và dòng ngắn mạch của một pin quang điện, đồng thời điện áp hở mạch cũng tăng lên một chút. Ngược lại, Hình 2.4 cho đặc tính I-V của một pin quang điện khi nhiệt độ của pin thay đổi trong khi độ chiếu nắng trên pin không đổi.
Có thể thấy rằng trong trường hợp này Isc biến thiên không đáng kể trong khi Voc thay đổi nhiều, khiến đặc tính P-V của pin cũng thay đổi theo nhiệt độ. Đặc tính I-V và P-V của pin STP240 20/Wde, SUNTECH [8] Hình 2. Đặc tính I-V của tế bào quang điện khi nhiệt độ thay đổi [8] Cơ sở lý thuyết HV: Nguyễn Thành Danh Luận văn Thạc sĩ 12 GVHD: TS. Nguyễn Phúc Khải 2.
Tầm quan trọng của dự báo sản lượng điện mặt trời Nguồn năng lượng tái tạo đặc biệt là điện mặt trời đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Việc chuyển dịch sang năng lượng tái tạo, dựa trên những lợi thế về mặt địa lý và thiên nhiên, sẽ giúp Việt Nam chủ động hơn trong việc đảm bảo năng lượng phục vụ cho phát triển kinh tế giảm thiểu rủi ro tác động từ thị trường bên ngoài. Dự báo sản lượng điện mặt trời chính xác với sai số thấp nhất có vai trò quan trọng hơn trong việc xây dựng các Kế hoạch Sản xuất kinh doanh và Đầu tư xây dựng lưới điện. Ngoài ra, việc dự báo còn giúp thiết lập kế hoạch công tác sửa chữa, bảo dưỡng lưới điện được hiệu quả đảm bảo lưới luôn ổn định trong suốt thời gian công tác.
Thực trạng công tác dự báo sản lượng điện mặt trời hiện nay Nhiều năm trở lại đây, do thực trạng khan hiếm nhiên liệu hóa thạch và tính cấp thiết của nhu cầu bảo vệ môi trường, năng lượng điện tái tạo trở thành một lựa chọn quan trọng. Cho đến nay, tuy đã có nhiều nghiên cứu trong việc giải quyết bài toán dự báo sản lượng điện năng mặt trời nhưng đây vẫn là bài toán khó, chưa có chuẩn mực về phương pháp luận. Bên cạnh các lợi ích như bù đắp năng lượng thiếu hụt, tận dụng năng lượng tại chỗ, giảm thiểu khí nhà kính, việc các nguồn điện tái tạo như điện mặt trời, điện gió tham gia vào lưới điện cũng gây ra nhiều ảnh hưởng cho việc vận hành lưới điện, trong đó có hai thách thức chính như sau: Công suất đầu ra nguồn điện mặt trời, gió không ổn định, thay đổi thường xuyên với tính ngẫu nhiên cao, dẫn đến hệ thống điện luôn phải có dự phòng công suất lớn để bảo đảm cung cấp đủ công suất cho hệ thống phụ tải. Cơ sở lý thuyết HV: Nguyễn Thành Danh Luận văn Thạc sĩ 13 GVHD: TS.
Nguyễn Phúc Khải Các nguồn điện này hay thay đổi đột ngột, không có dự trữ động năng như các máy phát điện quay, nên khi chúng tham gia vào hệ thống điện với tỷ trọng cao sẽ làm giảm quán tính quay của hệ thống, dẫn đến giảm độ dự trữ ổn định của hệ thống điện và tăng nguy mất ổn định lưới điện. Để giải quyết hai thách thức trên mà vẫn sử dụng được nguồn năng lượng tái tạo nhiều nhất có thể, cần phải thực thi các giải pháp trên lưới điện như lắp đặt, bổ sung hệ thống lưu trữ năng lượng, phối hợp điều khiển tải và hệ thống lưu trữ năng lượng để tăng quán tính quay tổng hợp của hệ thống, thiết kế các bộ điều khiển tại chỗ cũng như diện rộng để ổn định lưới điện. Việc dự báo chính xác công suất của các nguồn điện tái tạo có một vai trò rất quan trọng để bảo đảm tính hiệu quả và tối ưu của các giải pháp trên. Ngay cả khi mức độ nguy hiểm của các thách thức này chưa cao, việc dự báo công suất của các nguồn điện tái tạo cũng rất cần thiết để công tác lập kế hoạch, quản lý và vận hành hệ thống điện.