CHƯƠNG 1. Giới thiệu về rượu Whisky [1,5, 7, 22] Rượu Whisky là một loại rượu cao độ rất phổ biến trên thế giới với sức tiêu thụ hàng năm lên đến hơn 3 tỷ lít/năm và được tiêu thụ ở hàng trăm nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Trong các loại rượu mạnh trên thế giới thì Whisky là loại rượu phổ biến thứ hai (chiếm 12%) chỉ sau rượu trắng (chiếm 23%).Thị phần của rượu mạnh trên toàn thế giới năm 2009 Nguồn gốc của rượu Whisky bắt nguồn tại Scotland từ cuối thế kỷ 15 nhưng tồn tại ở dạng thô không qua tàng trữ và có mùi vị rất đậm và nặng. Đến thế kỷ 17 Whisky được hoàn thiện dần về hương vị tương tự như hiện nay.
Sau cuộc di dân vào Mỹ do khan hiếm nguồn nguyên liệu nên sản suất rượu Whisky từ 100% malt đại mạch đã được thay thế bằng các loại ngũ cốc khác. Hiện nay rượu Whisky được sản xuất thành rất nhiều dòng sản phẩm khác nhau từ các nguồn nguyên liệu biệt được phân loại như sau: 7 Nguyễn Xuân Bách Cao học - CNTP2014A LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ▪ Phân loại theo loại ngũ cốc: - Malt: là loại Whisky được làm từ mạch nha. - Grain: là loại Whisky được sản xuất từ lúa mạch. - Rye: là loại Whisky chủ yếu được sản xuất từ lúa mạch đen, ít nhất là 51%.
- Bourbon: là loại Whisky chủ yếu được sản xuất từ ngô, ít nhất 51% và được chưng cất tối đa là 81%V và được tàng trữ tối đa là 61%V. ▪ Phân loại theo quy trình sản xuất: Tên gọi một phần cũng thể hiện rõ quy trình sản xuất của từng loại Whisky: - Single: là loại Whisky có nguồn gốc chỉ từ một lò nấu rượu riêng lẻ thường dùng cho Whisky của Scotland: Single-Malt-Whisky. - Straight: là loại Whisky có nguồn gốc chỉ từ một lò nấu rượu riêng lẻ thường dùng cho Whiskey của Mỹ. - Blend: là loại Whisky đã được pha trộn.
Trong lúc sản xuất nhiều loại Whisky khác nhau từ nhiều lò nấu rượu khác nhau được pha vào với nhau. Trong một số sản phẩm có đến 70 loại Whisky khác nhau. - Pot Still: là loại Whisky được sản xuất chỉ dùng loại bình nấu cổ điển, thường dùng cho một số loại Whisky của Ireland. - Pure Pot Still: là loại Whisky được sản xuất chỉ dùng mạch nha trong các bình nấu rượu cổ điển, thường dùng cho một số loại Whisky riêng lẻ của Ireland.
▪ Các cách phân loại khác: - Cask strength (độ mạnh thùng):Sau khi được trữ trong thùng người ta không cho thêm nước vào whisky nữa để đạt đến một nồng độ rượu nhất định. Nồng độ rượu của những loại whisky này khác nhau vì thay đổi tùy theo thời gian trữ, điều kiện môi trường, chất lượng của thùng chứa và nồng độ rượu của phần cất nguyên thủy. - Vintage (năm sản xuất): Loại whisky được sử dụng có nguồn gốc từ năm được ghi chú. 8 Nguyễn Xuân Bách Cao học - CNTP2014A LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Single cask (thùng riêng lẻ): Loại whisky này có nguồn gốc từ một thùng rượu riêng lẻ (thường dùng cho Whisky của Scotland).
Các nước sản xuất rượu Whisky hàng đầu trên thế giới đều đưa ra các định nghĩa riêng về Whisky tùy thuộc với dòng sản phẩm của riêng họ với tên gọi như: Scotch, Irish hay American Whisky, Canadian Whisky, Indian Whisky. Tóm chung lại rượu Whisky là sản phẩm rượu cao độ có nồng độ cồn từ 40% (thường từ 40-60%); được lên men từ nguyên liệu là malt đại mạch và (hoặc) ngũ cốc; được đem trưng cất từ 40-95% cồn; hương, vị được tách triết từ gỗ sồi; thời gian tàng trữ từ 3 năm trở lên. Giới thiệu về sản xuất rượu tại Việt Nam[3, 24]. Việt Nam là nước có truyền thống nông nghiệp và văn hóa uống rượu lâu đời.
Rượu truyền thống ở Việt Nam là rượu trắng (thường là rượu cao độ) với rất nhiều các tên tuổi nổi tiếng gắn liền với từng vùng miền như: rượu Làng Vân (Bắc Giang), rượu ngô Thanh Vân (Hà Giang), rượu Mai Hạ (Hòa Bình), rượu Mẫu Sơn (Lạng Sơn), rượu Sán Lùng (Lào Cai), rượu Bàu Đá (Bình Định), rượu Đế Bến Lức, Gò Đen (Long An)…Tuy nhiên do quy mô sản suất mới dừng ở mức độ làng nghề, thiết bị máy móc thô sơ, thiếu đầu tư khoa học kỹ thuật nên đến nay Việt Nam vẫn chưa có sản phẩm rượu truyền thống nào thành thương hiệu quốc gia. Rượu cao độ ở Việt Nam phần lớn là do dân sản xuất thủ công. Theo số liệu báo cáo của sở công thương các tỉnh, tổng sản lượng rượu dân tự nấu đạt 242,412 triệu lít/năm. Trong đó loại rượu nấu ở các địa phương có truyền thống khoảng 82,412 triệu lít/năm.
Sản lượng rượu dân tự nấu rải rác ở các địa phương còn lại không thống kê được, ước còn khoảng 160 triệu lít. Các nhà sản xuất rượu cao độ quy mô công nghiệp tại Việt Nam chủ yếu sản xuất rượu Vodka như: Công ty Cổ phần Cồn Rượu Hà Nội, Công ty Cổ phần Cồn Rượu Bình Tây (Tp Hồ Chí Minh), Công ty Cổ phần Bia Rượu Đồng Xuân (Phú Thọ)… và một số thương hiệu rượu Vodka đang bắt đầu đi vào 9 Nguyễn Xuân Bách Cao học - CNTP2014A LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được thị trường như rượu Vodka Men, Vodka Avinaa, Vodka Cá sấu… với tổng sản lượng khoảng 70 triệu lít/ năm. Các loại rượu màu cao độ tại Việt Nam đều được nhập khẩu như Jonnie Walker, Chivas, Jack Daniels Crown Royal, XO… với mức thuế cao (thuế nhập khẩu 60%, thuế tiêu thụ đặc biệt 75% và thuế VAT 10%) đẩy giá thành lên rất cao. Ngoài ra việc sản xuất rượu giả tại Việt Nam vẫn chưa kiểm soát được (theo phòng thị trường Hà Nội thống kê năm 2013, có tới 95% rượu ngoại trên thị trường là hàng giả hoặc có xuất xứ không rõ ràng).
Điều đó làm cho khả năng tiếp cận của người tiêu dùng với các sản phẩm rượu màu chất lượng trở nên thấp đi. Hiện nay Việt Nam cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào về rượu Whisky được công bố cũng như chưa có một tiêu chuẩn cụ thể cho rượu Whisky và cũng chưa có sản phẩm rượu Whisky mang thương hiệu Việt Nam. Giới thiệu một số nguyên liệu thay thế để sản xuất Whisky ở Việt Nam I. Gạo Gạo là sản phẩm từ cây lúa.Cây lúa đã gắn bó và đi sâu vào còn người làng quê Việt Nam.
Ở nước ta hai vùng trồng lúa nhiều nhất là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng. Mặc dù diện tích ngày càng bị thu hẹp nhưng sản lượng lúa nước ta vẫn liên tục tăng nhờ vào việc áp dụng các cải tiến khoa học kỹ thuật, sử dụng các giống cây trồng mới cho năng suất cao. Không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ra thị trường bên ngoài.Theo thống kế của FAO năm 2008, Việt Nam có sản lượng lúa đứng thứ 5 trên thế giới. Trong nhiều năm gần đây, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới.
10 Nguyễn Xuân Bách Cao học - CNTP2014A LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa Việt Nam qua các năm. (Nguồn: Niêm giám thống kê 2013, Tổng cục thống kê, Nhà xuất bản thống kê) Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2005 7329,2 48,9 35832,9 2006 7324,8 48,9 35849,5 2007 7207,4 49,9 35842,7 2008 7422,2 52,3 38729,8 2009 7437,2 52,4 38950,2 2010 7489,4 53,4 40005,6 2011 7655,4 55,4 42398,5 2012 7761,2 56,4 43737,8 2013 7899,4 55,8 44076,1 Gạo không chỉ là lương thực chiếm 80% năng lương bữa ăn cho người Việt mà còn là nguyên liệu sản xuất nhiều đồ uống có cồn như rượu nếp. nó có nhiều giá trị dinh dưỡng.
Hàm lượng chất dinh dưỡng có trong hạt gạo. Thành phần Tỉ lệ Gluxit 72-73% Protein thô 7-9% Lipid thô 1,3-2% Chất tro 1,0-1,5% Nước 12-15% 11 Nguyễn Xuân Bách Cao học - CNTP2014A LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ngô Ở Việt Nam, ngô là loại cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa. Có nhiều loại ngô, thường được xếp vào các loại khác nhau về cả tính chất và công dụng như ngô nếp (hạt màu trắng, dẻo hạt), chủ yếu để ăn; ngô tẻ (hạt màu trắng hoặc vàng), cứng nhưng sản lượng cao nên dùng làm thức ăn cho gia súc; ngô đường (hạt màu vàng không đều), vị ngọt và ngô rau (bắp nhỏ, ít tinh bột) dùng để ăn.
Diện tích, năng suất, sản lượng ngô Việt Nam qua các năm. (Nguồn: Niên giám thống kê 2013, Tổng cục thống kê) Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (1000 ha) (tạ/ha) (1000 tấn) 2006 1033,1 37,3 3854,6 2007 1096,1 39,3 4303,2 2008 1140,2 40,1 4573,1 2009 1089,2 40,1 4371,7 2010 1125,7 41,1 4625,7 2011 1121,3 43,1 4835,6 2012 1156,6 43,0 4973,6 2013 1172,5 44,3 5193,5 Từ năm 2006, năng suất và sản lượng ngô của Việt Nam đã có những bước tiến nhảy vọt cao nhất từ trước đến nay. Tốc độ tăng trưởng diện tích, năng suất và sản lượng ngô của Việt Nam cao hơn nhiều lần của thế giới, lợi nhuận trồng ngô lai cao hơn hẳn các loại cây trồng khác. Năm 2008, diện tích trồng ngô của cả nước (trong đó 90% diện tích là ngô lai) đạt 1140,2 nghìn ha, tổng sản lượng trên 4573 nghìn tấn.
Đến năm 2013, diện tích đạt 1172,5 nghìn ha, tổng sản lượng lên tới trên 5193 nghìn tấn, cao nhất từ trước tới nay. Các giống ngô lai của Việt Nam bước đầu 12 Nguyễn Xuân Bách Cao học - CNTP2014A LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cũng đã xuất bán sang các nước Bangladesh, Cam-pu-chia, Lào, Quảng Tây - Trung Quốc, Pakistan, Indonesia, Ấn Độ…(Theo Viện nghiên cứu ngô). Thành phần dinh dưỡng của hạt ngô. Đơn vị: % so với trọng lượng hạt Giống ngô Thành phần Ngô đá Ngô răng Ngô bột ngựa Tinh bột 63,5 70,55 69,0 Gluxit hòa tan 4,5 3,5 3,25 Chất béo 5,8 5,4 4,25 Protid 12,8 11,5 12,53 Xenluloza 1,78 1,81 1,71 Pentozan 4,34 4,25 4,05 Tro 1,61 1,45 1,35 Một số chất khác 0,67 1,54 1,86 Có thể thấy, hạt ngô có giá trị dinh dưỡng tương đối cao, chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho người, trong đó hàm lượng lipid và protid trong ngô nhiều hơn trong gạo.
Với giá trị dinh dưỡng cao, ngô rất thích hợp để nấu rượu. Ứng dụng enzym trong sản xuất rượu Whisky I. Amylase [8] Amylase là enzym thuộc nhóm enzyme thủy phân, xúc tác phân giải liên kết nội phân tử trong nhóm polysaccharide với sự tham gia của nước. R-R’ + H-OH → RH + R’OH Amylase thủy phân tinh bột, glucogen và dextrin thành glucose, maltose và dextrin hạn chế.