Chương 1. Trình bày các kết quả đánh giá về mực nước biển dâng toàn cầu và khu vực trong quá khứ cũng như tương lai. Tổng hợp và nhận định về các phương pháp đã được sử dụng dé dự tính mực nước biển dâng cho toàn cầu cũng như khu vực và một số phương pháp đã được áp dụng ở Việt Nam. Đối tượng, số liệu và phương pháp nghiên cứu.
Giới thiệu các đặc điểm chính của khu vực nghiên cứu, các yếu tố ảnh hưởng tới mực nước biển dâng khu vực. Giới thiệu các nguồn số liệu được sử dụng dé dự tính mực nước biển dâng. Trình bày và phân tích một cách tuần tự và hợp lý về cách tiếp cận và các phương pháp xử lý số liệu, phương pháp dự tính mực nước biển dâng được sử dụng trong nghiên cứu. Kết quả và thảo luận.
Trình bày các kết quả chính mà nghiên cứu đạt được, bao gồm: Xu thé biến đổi của dao động mực nước, Kiểm nghiệm các mô hình hoàn lưu chung AOGCMs với số liệu quan trắc; Phân bố không gian của mực nước biển dâng và mực nước biên dâng trung bình toàn khu vực biển Việt Nam. Các kịch bản nồng độ khí nhà kính RCPs Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rang BDKH có liên hệ chặt chẽ với mức độ phát thải khí nhà kính, qua đó gián tiếp phản ánh mối liên hệ với tốc độ phát triển kinh tế — xã hội. Diễn biến của lượng khí nhà kính trong tương lai được thê hiện bằng các kịch bản nồng độ khác nhau dựa trên các giả định VỀ sự phát triển kinh tế - xã hội. Các cơ sở để xác định các kịch bản khí nhà kính bao gồm: 1) Sự phát triển kinh tế ở quy mô toàn cầu; 2) Dân số thế giới và mức độ tiêu dùng: 3) Chuẩn mực cuộc sống và lối sống; 4) Tiêu thụ năng lượng và tài nguyên năng lượng; 5) Chuyển giao công nghệ; 6) Thay đổi sử dụng đất.
Từ Báo cáo đánh giá lần thứ nhất (FAR) được đưa ra vào năm 1990 tới Báo cáo đánh giá lần thứ năm (ARS) được đưa ra vào năm 2013, IPCC đã liên tục cập nhật các kịch bản khí nhà kính dựa trên các nghiên cứu khác nhau. Từ sau Báo cáo đánh giá lần thứ 4 (AR4) vào năm 2007, đứng trước các hiểu biết mới về các quá trình vật lý, cũng như sự cải tiến trong phương pháp quan trắc và tính toán, nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu đề phát triển một hệ thống kịch bản mới có tính chắc chắn hơn làm cơ sở cho các đánh giá về BDKH và nước biển dâng trong tương lai (IPCC, 2007). Sự cần thiết phải cập nhật một hệ thống kịch bản mới thể hiện qua các yêu cầu: 1) Mở rộng phạm vi bao hàm của nồng độ khí nhà kính; 2) Tăng số lượng biến làm đầu vào cho các mô hình; 3) Lồng ghép các vấn đề giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH; 4) Mô tả sâu sắc và toàn diện hơn. Chính vì vậy, trong Báo cáo ARS của IPCC, thuật ngữ RCPs (Representative Concentration Pathways), tạm dịch là “Đường nồng độ đại diện”, được đưa ra dé diễn tả các kịch bản phát triển kinh tế xã hội toàn cầu trong tương lai, dẫn đến việc trái đất tích tụ khí nhà kính với các nồng độ khác nhau và nhận được lượng bức xạ nhiệt tương ứng.
Trong Báo cáo ARS, kịch bản phát thải khí nhà kính (SRES) đã được thay thế bởi kịch bản nồng độ khí nhà kính (RCPs), các kịch ban RCP được đặt tên theo cường độ bức xạ cưỡng bức sẽ đạt đến vào năm 2100, cụ thé như RCP 2. Các thông số được hàm chứa trong các kịch bản này sẽ là đầu vào cho các mô hình kết hợp khí quyền — dai dương toản câu và khu vực. Hệ thống kịch bản mới được xây dựng dựa trên kết quả hợp tác giữa các nhóm nghiên cứu mô hình tích hợp LAM khác nhau, trong đó, mỗi kịch bản khí nồng độ nhà kính (RCP) được phát triển bởi một nhóm chuyên biệt. Đặc điểm tiến bộ quan trọng nhất của bộ kịch bản RCPs so với các kịch ban SRES trước đó là không cô định các giả định liên quan đến các vấn đề kinh tế - xã hội như sự gia tăng dân số, tăng trưởng kinh tế, cải tiến công nghệ, thay đổi sử dung đất.
Nhiều giả định về phát triển kinh tế xã hội trong tương lai khác nhau đều có thể dẫn đến cùng một cường độ bức xạ cưỡng bức. Cường độ bức xạ cưỡng bức có thé xem là thước đo mức độ ảnh hưởng của một yêu tô tới sự thay đôi cân bằng năng lượng vào/ra trong hệ thống khí quyên trai đất và được do bang Watts cho mỗi mét vuông (W/m?) (Bảng 1. Mô tả các kịch bản nông độ khí nhà kính RCPs Kịch ¬ ee ee ¬¬. M6 hinh danh gia tich l Mô tả và các đặc trưng cia kịch bản bản x Ty ng hop (Integrated nông độ khí nhà kính RCPs assessment model - IAM) Bức xạ cưỡng bức đạt cực đại ~ 3 W/m? RCP 2.6 | (tương đương ~ 490 ppm CO;) trước năm IMAGE 2100 va sau đó giảm dan Bức xạ cưỡng bức ồn định không vượt qua RCP 4.5 | 4,5 W/m’ (tương đương ~ 650 ppm CO;) GCAM vào năm 2100 RCP 6.0 | Bức xạ cưỡng bức 6n định không vượt quá 6 W/m? (tương đương ~ 850 ppm CO;) AIM vao nam 2100 Bức xạ cưỡng bức tăng đến 8,5 W/m2 RCP 8.
Ngoài ra, tác động của nồng độ của các khí nhà kính trong khí quyên như CO, CH¿, NH3, NO,. và các sol khí khác (như sulfate và muội than) trong giai đoạn 1850 - 2100 cũng được tính đến. Nhìn chung, phạm vi của các kịch bản RCPs bao gồm toàn bộ các kịch bản phát thải khí nhà kính, trong điều kiện có và không có các chính sách khí hậu. Các đánh giá về mực nước biển dâng trung bình toàn cầu và khu vực Bằng cách sử dụng nhiều phương pháp quan trắc khác nhau, các biến động của mực nước biển trên phạm vi toàn cầu trong nhiều thế ki đã được ghi nhận.
Kết qua phân tích các biến động dài hạn cũng như ngắn hạn của mực nước biển được quan trắc đã đưa đến các hiểu biết về độ nhạy với khí hậu của mực nước biển trong quá khứ, những thay đổi của mực nước biển trong hiện tại cũng như những thay đổi có thể dự báo trước trong tương lai [27], [45], [46], [48], [71], [72]. Hiện nay, hai nguồn số liệu quan trắc mực nước biển chủ yếu van là số liệu từ các trạm đo triều (in-situ) (từ những năm đầu thé ki 19) va số liệu từ các vệ tinh đo cao (altimetry) (từ những năm đầu thập ki 1990). Mực nước biên dâng trung bình toàn cầu ước tính từ số liệu thực đo [21], [22]. [40], [42], [70], cho thay xu thế dâng trung bình toàn cầu là khoảng 1,7 + 0,2 mm/năm trong giai đoạn 1901-2010 với mực nước biên dang tông cộng tương ứng là 0,19 + 0,2 m.
Những bằng chứng nay cùng với các bang chứng về tốc độ thay đổi mực nước bién cho thay tỷ lệ dâng của mực nước biển trung bình toàn cầu có xu hướng tăng trong hai thế kỉ vừa qua và từ đầu những năm 1900, tỷ lệ dâng này có dấu hiệu đã gia tốc. Gia tốc này nhạy cảm với độ dài của thời gian phân tích do có những biến thiên tần suất thấp (chăng hạn các biến thiên đa thập kỉ đã được ghi nhận trong các số liệu thực đo tại trạm [20]). Theo kết quả đã công bố trong nghiên cứu của Church và White [22], độ lớn của gia tốc là 0,009 + 0,005 mm/năn” trong giai đoạn 1880-2009 khi không tính đến thành phan dao động chu kì 60 năm. Từ đầu những năm 1990, các vệ tinh với độ chính xác cao đã bắt đầu cung cấp số liệu quan trắc mực nước biển trên quy mô toàn cầu (+66°) với độ phân giải thời gian xấp xỉ 10 ngày.
Mặc dù trong chuỗi số liệu trung bình năm được đưa ra bởi các vệ tinh đo cao khác nhau luôn tôn tại mức độ chênh lệch nhỏ [54], xu thé mực nước biển dâng trung bình toàn cầu dài hạn (trên 20 năm) vẫn có sự thống nhất cao. Từ kết quả phân tích các nguồn số liệu vệ tỉnh đo cao khác nhau, có tính đến mức hiệu chỉnh ~0.3mm/năm do hiện tượng mở rộng thủy vực đại dương toàn cầu liên quan đến điều chỉnh đăng tĩnh băng [64], tốc độ dâng của mực nước biển trung bình toàn cầu lên tới 3,2 + 0,4 mm/năm tính riêng trong giai đoạn 1993-2012. Độ chính xác của kết quả phân tích được đánh giá dựa trên việc tong hợp tat cả các nguồn sai số ảnh hưởng đến phương pháp quan trắc từ vệ tỉnh [11] cùng với việc so sánh giữa các trạm đo triều khác nhau [12], [60]. Xu thế mực nước biển dâng trung bình toàn cầu từ năm 1993 cao hon so với tốc độ trung bình trong thế ki 20, và tốc độ ding mực nước biên trung bình toàn cầu giữa giai đoạn 1920 đến 1950 tương ứng với tốc độ dâng trong giai đoạn từ năm 1993 đến nay.
Tốc độ dâng cao hơn cũng được nhận thấy khi phân tích số liệu từ các trạm đo triều trong cùng giai đoạn, nhưng nếu chi dua trên các số liệu quan trắc thì chưa thé đưa ra kết luận rằng mực nước biển dâng đã gia tốc trong thời gian gần đây, vì cần xem xét đến những biến thiên quy mô đa thập ki của mực nước biển đã được phản ánh trước đây. Mức độ gia tăng nhanh hơn của mực nước biển dâng trung bình toàn cầu từ năm 2001 đến nay có thé có mối liên hệ với hiện tượng La Nina trong năm 2011 [14]. Theo nhận định dựa trên các bằng chứng khoa học, thành phan quan trọng nhất đóng góp vào sự gia tăng của mực nước biên là quá trình giãn nở nhiệt do sự hap thu 6 nhiệt của đại đương trên quy mô toàn cầu. Các bằng chứng được thu thập được từ nhiều nguồn, sử dụng các phương pháp khác nhau, bao gồm: (1) nguồn số liệu về biến thiên độ sâu đại dương theo thời gian mang tính hệ thống cho thấy sự mở rộng của đại dương trong quá khứ [30], (2) nguồn số liệu về nhiệt độ, độ mặn và dòng chảy biển của dự án Argo (Hệ thống trạm phao quan trắc nhiệt độ, độ mặn và dòng chảy biển theo thời gian thực) gần đây với độ bao phủ gần như toàn cầu (ngoại trừ các khu vực bao phủ bởi băng và các biên) tới độ sâu 2.