Chương 1: Giới thiệu về lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Các lý thuyết liên quan đến đề tài sẽ được trình bày, đó là lý thuyết về lạm phát, các yếu tố tác động đến lạm phát. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Phương phát định lượng trong dự báo được sử dụng, mà tiêu tiểu là mô hình mạng thần kinh nhân tạo và mô hình hồi quy tuyến tính. Chương này cũng trình bày về cách vận hành của mạng thần kinh nhân tạo và cách thiết lập một mạng thần kinh phù hợp với yêu cầu đặt ra.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu về mô hình ANN và mô hình hồi quy tuyến tính sẽ được trình bày. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trong chương này, những điểm đạt được và chưa đạt được của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ được trình bày. Luan van Chương 2: Cơ sở lý thuyết 4 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Lạm phát Khi nghiên cứu về chế độ bản vị vàng, Karl Marx đã khẳng định: việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn trong số lượng vàng sẽ thực sự lưu thông dưới hình thức là các đại diện tiền giấy của mình. Một khi lượng tiền giấy vượt quá mức giới hạn này thì tiền giấy sẽ mất dần giấy trị làm gia tăng mức giá chung của tất cả các loại hàng hóa và tình trạng lạm phát xuất hiện.
Theo đó, lạm phát, dưới quan điềm của Karl Marx, được định nghĩa như sau: Lạm phát là việc các kênh, các luồng lưu thông tràn đầy những tờ giấy bạc dư thừa dẫn đến sự tăng vọt trong mức giá chung. Cũng bàn về vấn đề lưu thông tiền tệ, Milton Friendman đã từng phát biểu: Lạm phát ở mọi lúc mọi nơi đều là hiện tượng của lưu thông tiền tệ. Lạm phát xuất hiện và chỉ xuất hiện khi nào số lượng tiền trong lưu thông tăng nhanh hơn so với sản xuất. Tuy nhiên, John Keynes với thuyết cầu của mình cho rằng nguồn gốc sâu xa của lạm phát là sự biến động cung cầu.
Khi cung đã vượt xa cầu thì sản xuất sẽ đình đốn, nền kinh tế bị suy giảm. Lúc đó, Nhà Nước buộc phải tung ra các khoản chi tiêu, đầu tư công lớn, tăng cường các chính sách tín dụng nhằm kéo mức cầu của cả nền kinh tế về cân bằng và vượt qua tổng cung. Lúc này, lạm phát đã xuất hiện. Trong trường hợp nền kinh tế phát triển hiệu quả, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ cấu kinh tế được đổi mới thành công; lạm phát này có tác dụng thúc đẩy sản xuất.
Ngược lại, lạm phát, theo Keynes, đã không còn là động lực phát triển của nền kinh tế. Samuelson thì lạm phát xảy ra khi mức tăng trong chi phí sản xuất, kinh doanh cao hơn mức tăng trong năng suất lao động. Chi phí gia tăng có thể Luan van Chương 2: Cơ sở lý thuyết 5 do sự gia tăng trong mức tiền lương, chi phí nguyên vật liệu đầu vào, hoặc cũng có thể là do công nghệ lạc hậu, cơ chế quản lý cồng kềnh… Khi mức chi phí này vượt qua khỏi sự bù đắp của năng suất lao động thì giá cả các mặt hàng sẽ tăng vọt và lạm phát xuất hiện. Lúc này, lạm phát không còn là động lực để phát triển nữa mà nó sẽ khiến cho nền kinh tế bị suy thoái, cần các biện pháp cấp bách nhằm khống chế lạm phát.
Tóm lại, có rất nhiều góc nhìn khác nhau về lạm phát. Mỗi quan điểm, lý thuyết chỉ giải thích cho một số thời kỳ nhất định và ngày càng nhiều quan điểm mới ra đời cùng sự phát triển của nền kinh tế. Nhìn chung, dưới bất kỳ quan điểm nào lạm phát cũng được đặc trưng bởi 3 điểm chính yếu sau: Sự gia tăng quá mức của lượng tiền trong lưu thông. Dẫn đến sự mất giá của đồng tiền.
Từ đó, khiến cho giá cả các loại mặt hàng tăng cao.2 Phân loại lạm phát Xét về định tính, lạm phát được nhà kinh tế học Paul A. Samuelson phân thành hai loại như sau: Lạm phát cân bằng và có thể dự đoán trước: Đây là loại lạm phát khi toàn bộ giá cả của nền kinh tế đều tăng và mức tăng này đã được dự đoán trước thì thu nhập của người dân cũng đồng thời được tăng lên một cách tương ứng. Theo đó, lạm phát cân bằng và có thể dự đoán trước sẽ không gây ra một tác hại nào cho việc sản xuất kinh doanh, tốc độ tăng trưởng của kinh tế hay việc phân phối thu nhập của người dân. Luan van Chương 2: Cơ sở lý thuyết 6 Lạm phát không cân bằng và không được dự đoán trước: Loại lạm phát này xảy ra khi mức giá cả các loại hàng hóa, dịch vụ tăng không đều nhau, vượt xa mức tăng trong tiền lương và không được dự báo trước.
Đây là loại phát gây khó khăn cho người dân, thiệt hại cho cả nền kinh tế. Một khi lạm phát này xảy ra đồng tiền bị mất giá khiến cho những người nắm giữ hàng hóa giàu lên trong khi những người cầm tiền thì lại nghèo đi một cách tương đối, thu nhập được phân phối lại. Vì thế dẫn đến tình trạng đầu cơ tích trữ hàng hóa, ngoại tệ, vàng bạc, bất động sản… gây ra trạng thái khan hiếm hàng hóa, bóp méo, xuyên tạc các yếu tố thị trường, ảnh hưởng đến cả hoạt động sản xuất kinh doanh.3 Các yếu tốt tác động đến lạm phát Theo Keynes (1936), trong dài hạn lạm phát chịu tác động trực tiếp từ cung tiền, còn trong ngắn hạn lạm phát chịu tác động bởi tổng cung và tổng cầu. Có nhiều yếu tố tác động làm dịch chuyển tổng cung và tổng cầu.
Sau đây chúng ta sẽ xem xét một số yếu tố tác động đến tổng cung và tổng cầu từ đó tác động đến lạm phát. Cung tiền Khi cung tiền tăng, người dân sẽ có nhu cầu tiêu thụ nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn, do đó đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang phải từ đó làm cho mức giá chung tăng lên. Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đều khẳng định cung tiền là yếu tố có tác động đến lạm phát, tiêu biểu là nghiên cứu của Sử Đình Thành (2012), Phạm Thị Thu Trang (2009). Hình vẽ sau nói lên mối liên hệ giữa lạm phát và cung tiền theo năm của Việt Nam.
Luan van Chương 2: Cơ sở lý thuyết 7 Hình 1: Mối liên hệ giữa lạm phát và cung tiền của Việt Nam Nguồn: Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) Từ biểu đồ trên ta thấy, lạm phát và cung tiền có xu hướng biến đổi cùng nhau, đặc biệt là trong giai đoạn lạm phát cao trước năm 1990. Mức độ thay đổi của cung tiền trung bình cao hơn lạm phát từ 10-20%. Lãi suất Theo Keynes (1936), trong ngắn hạn lãi suất thay đổi để điều chỉnh cung và cầu về tiền tệ. Cung và cầu về tiền tệ sẽ tác động đến tiết kiệm và đầu tư, từ đó tác động đến tổng cầu và làm thay đổi mức giá chung của nên kinh tế.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hoài (2010), thì ngân hàng có thể vận dụng luật Taylor để ấn định một mức lãi suất mà ở đó nền kinh tế có thể đạt được sản lượng mục tiêu và lạm phát mục tiêu. Do đó, lãi suất là yếu tố có tác động đến mức giá chung của nền kinh tế. Tuy nhiên tại Việt Nam, ngân hàng trung ương vẫn chưa vận dụng nguyên Luan van Chương 2: Cơ sở lý thuyết 8 tắc này mà chủ yếu là điều chỉnh lãi suất để đạt được mức lạm phát mục tiêu. Mức sản lượng mục tiêu có thể điểu chỉnh thông qua đầu tư.
Mùa vụ Lạm phát thu thập theo tháng thường mang tính mùa. Tại Việt Nam, giá cả vào những tháng Tết thường cao hơn những tháng khác do nhu cầu mua sắm và đi lại tăng cao. Biểu đồ lạm phát theo tháng sau đây cho ta thấy tính mùa vụ của lạm phát. Đỉnh của lạm phát thường rơi vào tháng 1 và tháng 2 còn đáy thường rơi vào tháng 3 trong năm.
Hình 2: Lạm phát theo tháng của Việt Nam Nguồn: Tổng cục thống kê (GSO) Sau năm 2007, lạm phát có những diễn biến bất thường do chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới cũng như sự gia tăng cung tiền quá mức của chính phủ. Tuy nhiên, lạm phát vẫn có xu hướng cao hơn vào những tháng Tết. Do khoản thời Luan van Chương 2: Cơ sở lý thuyết 9 gian này không phản ảnh được tính mùa vụ rõ ràng nên tác giả không đưa vào trong đồ thị này. Giá dầu thế giới Xăng dầu luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất của các doanh nghiệp.
Do đó, việc biến động giá xăng dầu sẽ dẫn đến chi phí sản xuất và dẫn đến biến động giá bán đầu ra. Theo nghiên cứu của Portes (2012) tại Trung Mỹ và Caribbe, thì giá xăng dầu không chỉ ảnh hưởng đến lạm phát mà còn ảnh hưởng đến một số biến số vĩ mô khác. Tại Việt Nam, mặc dù chính phủ có chính sách bình ổn giá xăng dầu, nhưng việc biến động giá xăng dầu của Việt Nam vẫn theo xu hướng giá thế giới, vì quỹ bình ổn giá của chính phủ là có hạn. Do đó, việc xem xét tác động của giá dầu thế giới đến lạm phát của Việt Nam là việc làm cần thiết.
Tại Việt Nam, mỗi lần tăng giá xăng dầu, là sẽ có một làn sóng tăng giá nổi lên. Một số các nhân và doanh nghiệp tăng giá đơn giản vì họ kỳ vọng giá các mặt hàng khác cũng sẽ tăng tương ứng. Các độ trễ của lạm phát Theo nghiên cứu của Phạm Thị Thu Trang (2009), người dân có khuynh hướng kỳ vọng lạm phát trong tương lai sẽ tương tự như lạm phát trong quá khứ. Do đó, giá trị lạm phát ở hiện tại luôn phụ thuộc vào giá trị của chính nó trong quá khứ.
Vì vậy, các độ trễ của lạm phát sẽ là một biến cần thiết được đưa vào mô hình để dự báo cho lạm phát ở hiện tại. Tuy nhiên, để biết được độ trể bao nhiêu là thích hợp thì cần phải có những phân tích chi tiết hơn. Thiên tai Việt Nam nằm trong vùng chịu ảnh hưởng nhiều của bão và lũ lụt. Mỗi khi một địa phương nào bị thiên tai là giá cả hàng hoá tại khu vực đó sẽ gia tăng.
Nếu thiên Luan van Chương 2: Cơ sở lý thuyết 10 tai càng lớn thì mức độ ảnh hưởng của nó đến giá cả càng lớn. Tuy nhiên tại Việt Nam cũng như trên thế giới có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này.