Chương 1 giới thiệu tổng quan về luận văn nghiên cứu bao gồm lý do hình thành nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết của nghiên cứu. Chương 3, dựa trên cơ sở lý thuyết đã trình bày ở chương hai, sẽ xây dựng phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và phân tích dữ liệu nghiên cứu. Chương 4 tiến hành kiểm tra giả thuyết của mô hình, sau đó trình bày các kết quả thực nghiệm và thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5 tóm tắt các kết luận đạt được từ nghiên cứu. Những đóng góp và hạn chế của đề tài cũng được đúc kết. Đồng thời tác giả đưa ra kiến nghị hướng nghiên cứu sắp tới. HV: Trần Hà Giang 5 Chương II: Cơ sở lý thuyết Chương II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Mục tiêu của chương II giới thiệu hai lý thuyết quan trọng làm nền tảng trong dự báo thị trường chứng khoán.
Dựa trên cơ sở những lý thuyết đó, các phương pháp thông thường để dự báo thị trường chứng khoán cũng được khái quát. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng dự báo cũng được trình bày. Sau cùng, chuyển động Brown được giải thích với mục đích tìm được mối liên hệ giữa chuyển động giá cổ phiếu và chuyển động Brown.1 LÝ THUYẾT VỀ DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Khi dự báo giá tương lai của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, có hai giả thuyết quan trọng nhất được đưa ra. Đầu tiên là Lý thuyết bước ngẫu nhiên và thứ hai là Lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH).1 Lý thuyết bước ngẫu nhiên (RWH) Lý thuyết bước ngẫu nhiên là lý thuyết về thị trường chứng khoán mà ngụ ý rằng sự di chuyển giá trong quá khứ của một chứng khoán hay của thị trường thì không sử dụng được để dự đoán giá của nó trong tương lai.
Theo Fama (1965a), lý thuyết bước ngẫu nhiên trong giá chứng khoán dựa trên hai giả định: (1) sự thay đổi giá liên tiếp là độc lập nhau và (2) sự thay đổi giá tuân theo một mật độ xác suất. Bước ngẫu nhiên lần đầu được giới thiệu bởi nhà thống kê học người Pháp Louis Bachelier vào năm 1900 trong luận án tiến sĩ của ông về Thuyết đầu cơ khi miêu tả về động học thị trường chứng khoán (Samuelson, 1965). Lý thuyết bước ngẫu nhiên được hình thành và phát triển dựa trên những đóng góp đáng kể của Kendall & Hill (1953), Samuelson (1965a). Lý thuyết này được kiểm tra ban đầu bởi (Kendall & Hill 1953).
Nghiên cứu chỉ ra “Sự chuyển động của các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán là ngẫu nhiên,. Những dao động giá chứng khoán là độc lập với nhau và có cùng một phân bố xác suất, nhưng qua thời gian thì giá sẽ duy trì xu hướng đi lên.” Khi được trình bày lần đầu tiên, những kết quả này đã làm bối rối các nhà HV: Trần Hà Giang 6 Chương II: Cơ sở lý thuyết kinh tế tài chính và từ đó hình thành những nghiên cứu, thảo luận xa hơn. Những cuộc tranh luận này cuối cùng dẫn đến sự tạo thành lý thuyết bước ngẫu nhiên. Sau đó các nghiên cứu về lý thuyết bước ngẫu nhiên tiếp tục phát triển.
Samuelson (1965a) đã trình bày quan điểm của mình: “Giá cả cạnh tranh chắc chắn sẽ được thể hiện trong sự thay đổi giá, nó tuân theo bước ngẫu nhiên và không thể dự báo được”. Bartiromo (2004) đã chỉ ra trong nghiên cứu của mình về động học giá chứng khoán: “Giá của cổ phiếu có thể được miêu tả chính xác như là một bước ngẫu nhiên liên tục theo thời gian với hệ số khuếch tán độc lập với thời gian.” Lý thuyết ngẫu nhiên ban đầu đã được kiểm chứng trên các thị trường chứng khoán phát triển. Kendall and Hill (1953), Samuelson (1965a), Jensen (1978) đều kết luận chuyển động của thị trường tuân theo lý thuyết ngẫu nhiên. Một số nhà nghiên cứu khác (ví dụ Branes, 1986; Dickinson and Muragu, 1994; Urrutia, 1995; Ojah and Karemera, 1999) cũng đưa ra bằng chứng về sự tồn tại của bước ngẫu nhiên trên các thị trường mới nổi (Mobarek & Keasey 2003).
Nếu lý thuyết ngẫu nhiên hoàn toàn đúng trong thực tế thì các phương pháp, mô hình dự báo sẽ chẳng còn giá trị gì. Các nhà đầu tư cũng chẳng thể kiếm được lợi nhuận vượt mức thông qua dự đoán thị trường. Sau này, nghiên cứu của các tác giả đương đại đã chỉ ra lý thuyết ngẫu nhiên chính là nền tảng của lý thuyết thị trường hiệu quả cho đến những năm 1960 (Wilmott 2006). Fama (1965a) phân tích phân bố trên tập dữ liệu khá lớn của 30 cổ phiếu Down-Jones giai đoạn 1957-1962.
Nghiên cứu chỉ ra bằng chứng thực nghiệm đã ủng hộ kiểm định giả thuyết bước ngẫu nhiên: chuỗi thay đổi giá không có quá khứ, tức là quá khứ không dự báo được tương lai theo một cách có ý nghĩa thống kê. Lý thuyết thị trường hiệu quả được rút ra từ giải thích chính của nghiên cứu cho hiện tượng trên. Theo tác giả nếu có tồn tại một sự phụ thuộc có ý nghĩa về mặt thống kê trong chuỗi giá theo thời gian, các nhà phân tích tài chính ngay lập tức phát hiện ra. Sự thay đổi giá mà chỉ được giải thích bởi sự xuất hiện của dòng thông tin mới do đó sẽ không thể dự báo được.
Nghiên cứu về lý thuyết ngẫu nhiên cũng như lý thuyết thị trường hiệu quả sau đó được mở rộng và phát triển sau đó. Những nghiên cứu này chỉ ra lý thuyết ngẫu nhiên thuộc về giả thuyết thị HV: Trần Hà Giang 7 Chương II: Cơ sở lý thuyết trường hiệu quả dạng yếu. Và sau những năm 1960, lý thuyết bước ngẫu nhiên được mở rộng sang lý thuyết thị trường hiệu quả với sự xuất hiện của giả thuyết thị trường hiệu quả dạng trung bình và dạng mạnh.1 Lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH) Trong thị trường tài chính, động học giá chứng khoán được phản ảnh bởi những chuyển động ngẫu nhiên không chắc chắn của giá chứng khoán qua thời gian (Dmouj 2006). Một trong những lý do khả dĩ cho hành vi ngẫu nhiên của giá chứng khoán chính là Lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH).
Lý thuyết thị trường hiệu quả là một trong những lý thuyết chính thống, là nền tảng của ngành tài chính hiện đại. EMH thông qua nền tảng là Lý thuyết ngẫu nhiên lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1900 trong luận án tiến sĩ của nhà thống kê học người Pháp Louis Bachelier về Thuyết đầu cơ “Quá khứ, hiện tại và thậm chí là các sự kiện sẽ diễn ra trong tương lai sẽ được phản ánh trong giá hiện tại thị trường. Theo lý thuyết thị trường hiệu quả,“Một thị trường được coi là hiệu quả khi giá cả luôn được phản ánh đầy đủ bởi các thông tin sẵn có.” Do đó không thể kiếm lợi nhuận dựa trên những thông tin đã biết hay những hình thái biến động giá cả trong quá khứ. Bất cứ khi nào có một thay đổi trong triển vọng tài chính xảy ra thì thị trường sẽ điều chỉnh giá chứng khoán ngay lập tức để phản ánh những thông tin mới.
Cũng trong nghiên cứu này, Fama đã tổng hợp 3 cấp độ chia sẻ thông tin khác nhau của EMH gồm: (1) dạng thị trường yếu (weak form), (2) dạng thị trường bán mạnh (semi- strong form) và (3) dạng thị trường mạnh (strong form). (1) Dạng trị trường yếu: chỉ có thông tin lịch sử được phản ánh trong giá hiện tại. Số liệu lịch sử không cho phép đạt được lợi nhuận bổ sung. (2) Dạng thị trường bán mạnh: giá chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin được công bố (bao gồm thông tin hiện tại và quá khứ), nếu thị trường là hiệu quả thì mọi thông tin được công bố không cho phép đạt được lợi nhuận bất thường.
HV: Trần Hà Giang 8 Chương II: Cơ sở lý thuyết (3) Dạng thị trường mạnh: giá chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin được công bố và các thông tin chưa được công bố. Nếu thị trường là hiệu quả thì mọi thông tin có thể không cho phép người sử dụng thu được lợi nhuận vượt trội. Những khảo sát về tính hiệu quả thị trường của Fama (1970, 1991) tập trung vào việc kiểm tra tính hiệu quả thông tin. (Fama 1970) kết luận rằng bằng chứng thực nghiệm là một sự hỗ trợ lớn cho tính hiệu quả của thị trường dạng yếu và trung bình trong khi đó (Fama 1991) ngụ ý rằng giả định dạng thị trường mạnh không tồn tại và nghiên cứu đã chỉ ra bằng chứng mạnh mẽ của việc dự đoán lợi nhuận dựa vào cả giá trị độ trễ của lợi nhuận và thông tin công cộng có sẵn.
Khi nghiên cứu về giao dịch chứng khoán ở các nước đang phát triển, Samuels et al. (1981) đã đề cập đến định nghĩa tính hiệu quả của thị trường của các nước đang phát triển theo quan điểm thông tin như sau: “Giá cả không thể phản ánh một cách đầy đủ mọi thông tin sẵn có. Cũng không thể cho rằng các nhà đầu tư sẽ hiểu một cách đúng đắn các thông tin được công bố. Giá thị trường của các cổ phiếu chịu tác động lớn từ chính các tập đoàn sỡ hữu các cổ phiếu này hơn là sự tác động từ các thông tin được công bố trên thị trường.” Malkiel (1992) đã đưa ra một khái niệm toàn diện về EMH như sau: “Một thị trường vốn (thị trường chứng khoán) được cho là hiệu quả nếu nó phản ánh đầy đủ và chính xác tất cả các thông tin sẵn có trong việc xác định giá chứng khoán.” Nhiều nghiên cứu về Lý thuyết thị trường hiệu quả được thực hiện.
Đối với các nước phát triển như Anh, Mỹ, Pháp, nghiên cứu của Jensen (1978),Lucas (1978) công bố thị trường các nước này đều thỏa mãn EMH dạng yếu. Còn đối với các thị trường đang phát triển và mới nổi thì vẫn còn nhiều tranh cãi, chỉ một số thị trường thỏa mãn EMH dạng yếu, còn lại kết luận tính không hiệu quả của thị trường (Mobarek & Keasey 2003). Theo rất nhiều nghiên cứu lý thuyết đã đưa ra, trong giả định của lý thuyết thị trường hiệu quả dạng yếu thì giá tuân theo bước ngẫu nhiên, di chuyển không theo nhịp điệu hay một lí do nào. Tuy nhiên nghiên cứu ban sơ về thị trường hiệu quả dạng yếu đã mở ra con đường cho những nghiên cứu về dự báo giá thị trường chứng khoán nói chung và dự báo HV: Trần Hà Giang 9 Chương II: Cơ sở lý thuyết giá cổ phiếu nói riêng sau này.
Malkiel (2003) đã thảo luận trong nghiên cứu của mình rằng nhiều nhà thống kê và kinh tế học tài chính đã bắt đầu tin tưởng rằng giá chứng khoán ít nhất có thể dự báo một phần nào đó. Granger and Morgenstern (1970) đã xuất bản quyển sách “Khả năng dự báo của giá thị trường chứng khoán”.