Chương I. Chương II. Tổng quan nghiên cứu. Chương này sẽ tổng kết những khung lý thuyết cơ bản liên quan đến các vấn đề quan trọng của bài nghiên cứu như: thị trường chứng khoán, chỉ số chứng khoán VN-Index, các quan điểm về bài toán dự báo của các học giả trên Thế giới và cuối cùng là tổng hợp một số nghiên cứu trước đây liên quan tới đề tài.
Chương III. Phương pháp nghiên cứu. Phần này tác giả sẽ trình bày rõ hơn về phương pháp và mô hình nghiên cứu của đề tài, cùng với đó là đưa ra những lý thuyết về tính dừng và mô hình ARIMA, GARCH. Tiếp theo là Chương IV.
Kết quả nghiên cứu. Chương này sẽ kiểm định và lựa chọn mô hình phù hợp nhất với chuỗi dữ liệu nghiên cứu và cuối cùng là tiến hành dự báo. Trình bày kết quả nghiên cứu, những hạn chế và hướng phát triển tiếp theo cho bài nghiên cứu. CHƯƠNG II.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Lý luận chung về chứng khoán, thị trường chứng khoán và chỉ số chứng khoán 2.1 Chứng khoán e Khái niệm: Chứng khoán là một loại giấy tờ có giá trị đại diện cho quyền sở hữu hoặc quyền tham gia trong tài sản của một công ty hoặc tổ chức tài chính. Chứng khoán được phát hành và giao dịch trên các sàn giao dịch chứng khoán, và người mua chứng khoán trở thành cổ đông hoặc chủ sở hữu một phần tài sản của công ty. Chứng khoán có thể là cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ hoặc tùy chọn chứng khoán. Giao dịch chứng khoán là một trong những hoạt động quan trọng nhất của thị trường tài chính, được sử dụng để đầu tư và giao dịch để kiếm lợi nhuận.2 Thị trường chứng khoán e Khái niệm: Thị trường chứng khoán là nơi giao dịch mua bán, trao đổi các loại cổ phiếu chứng khoán và thường được thực hiện tại sở giao dịch chứng khoán hoặc thông qua các công ty môi giới chứng khoán.
Thị trường chứng khoán được chia thành 2 loại: thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. - _ Thị trường sơ cấp là noi mà cổ phiếu được phát hành lần đầu tiên từ công ty để hút một nguồn vốn đầu tư, giúp họ có thể huy động một số vốn trên thị trường chứng khoán. Thị trường sơ cấp thường thu hút các tổ chức lớn và các quỹ đầu tư. Những nhà đầu tư này sẽ mua các cổ phiếu mới phát hành, hi vọng có thể tận dụng cơ hội đầu tư vào các công ty tiềm năng và tăng giá trị đầu tư của mình trong tương lai.
- Thi trường chứng khoán thứ cấp, cổ phiếu được mua bán lại sau khi phát hành sơ cấp. Người mua tại thị trường sơ cấp sẽ tiến hành mua bán đối với các nhà đầu tư chứng khoán khác trên thị trường thứ cấp. Chính vì thế sẽ không có tiền mới được sinh ra mà chỉ là thay đổi quyền sở hữu cổ phiếu giữa người mua và bán. Thị trường chứng khoán thứ cấp cũng là nơi các nhà đầu tư cá nhân có thể tham gia giao dịch chứng khoán.3 Chỉ số VN-Index Chỉ số VNINDEX là chỉ số đại diện cho Sở giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh tính từ lúc thị trường chứng khoán bắt đầu đi vào hoạt động vào ngày 28/07/2000, đây là chỉ số đại diện cho tất cả cổ phiếu được niêm yết trên sàn HOSE.
Chỉ số VNIndex được tính bằng phương pháp Passcher và được công bố vào cuối mỗi phiên giao dịch. Chỉ số này so sánh giá trị vốn hóa thị trường hiện tại với giá trị thị trường cơ sở vào ngày 28/7/2000. VN-Index được tính theo công thức: Tổng giá trị thị trường của các cổ phiếu niềm yết hiện tại VN-Index = x100 (2.1) Tổng giá trị của các cổ phiếu niềm yết cơ sở SN pu Vi Hoặc VN-Index = ==*+**"_—_-x100 (2.2) Yi=1 Poi đọi Trong đó: qui: Khối lượng niêm yết hiện hành của cổ phiếu i Pii: Giá thị trường hiện tại của cổ phiếu i doi: Khối lượng niêm yết vào thời kì gốc cổ phiếu i Poi: Giá thị trường vào thời kì gốc của cổ phiếu i N: Số cổ phiếu đưa vào tính 2.4 Chỉ số Dow Jones Chỉ số Dow Jones, còn được gọi là chỉ số DJIA (Dow Jones Industrial Average), là là một trong những chỉ số chứng khoán hàng đầu tại Hoa Kỳ và toàn cầu. Chỉ số Dow Jones được phát triển và đưa ra sử dụng vào năm 1896 bởi Charles Dow, là một trong những nhà báo kinh tế đầu tiên tại Mỹ.
Chỉ số Dow Jones bao gồm 30 công ty lớn và có tầm ảnh hưởng trên thị trường chứng khoán Mỹ, bao gồm các công ty trong các ngành sản xuất, tài chính và dịch vụ. Các công ty được lựa chọn để đưa vào chỉ số Dow Jones phải đáp ứng một số tiêu chuẩn nhất định, bao gồm: sự phản ánh của công ty về tình hình kinh tế, sự ổn định tài chính và lịch sử thanh toán cổ tức cho cổ đông. Chỉ số này được tính toán như sau: Tổng giá trị thị trường của các cổ phiếu niêm yết hiện trong danh sách DJỊA=—“——————————— (2.2 Bài toán dự báo Bài toán dự báo đã tồn tại từ rất lâu và ngày càng trở nên quan trọng trong môi trường có quá nhiều thông tin như hiện nay. Các lĩnh vực khác nhau trong đời sống đều cần đến dự báo, ví dụ như trong khí tượng thủy văn, dự báo thời tiết và nhiệt độ giúp tránh được thiệt hại do thiên tai và hỗ trợ cho nền kinh tế, hoặc trong lĩnh vực tài chính, dự báo giá của các loại tiền tệ và chứng khoán có thể mang lại nhiều lợi ích cho các nhà đầu tư.
Như chúng ta đã biết, thị trường chứng khoán là một phần không thể thiếu của nền kinh tế và được xem là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất trong ngành tài chính. Trong thị trường chứng khoán, việc dự báo giá trị của các chứng khoán và các chỉ số chứng khoán là một vấn đề quan trọng để các nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định đúng đắn về việc đầu tư vào các cổ phiếu chứng khoán. Để dự báo giá trị của các chứng khoán và chỉ số chứng khoán, các nhà đầu tư thường sử dụng các mô hình phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản và mô hình dự báo. Trong đó, mô hình dự báo là một công cụ hữu hiệu giúp các nhà đầu tư có thể đưa ra các dự đoán về giá trị của các chứng khoán và chỉ số chứng khoán trong tương lai.
Một trong những mô hình được sử dụng phổ biến trong thị trường chứng khoán là mô hình ARIMA và mô hình GARCH. Hai mô hình này thường xuyên được sử dụng để dự báo biến động của giá trị của các chứng khoán và chỉ số chứng khoán trong tương lai dựa trên các biến động của chúng trong quá khứ.3 Quan điểm của các học giả trên thế giới về dự báo chứng khoán Cùng với sự phát triển của công nghệ, việc sử dụng các phương pháp định lượng trong nghiên cứu tài chính-kinh tế đã dần trở nên phổ biến. Đặc biệt là việc áp dụng mô hình liên quan đến dự báo giá chứng khoán hoặc dự báo biến động giá các tài sản có giá trị khác như giá vàng, giá dầu. Các học giả trên thế giới khi nghiên cứu về vấn đề dự báo giá chứng khoán thường chia làm 2 luồng quan điểm chính: Thứ nhất là những học giả tin vào thuyết “Bước đi ngẫu nhiên” (Random walk theory - được phát triển bởi nhà kinh tế học Fama vào năm 1965) những nhà nghiên cứu này cho rằng giá chứng khoán biến động ngẫu nhiên và không thể dự đoán trước được.
7 Hiểu về mặt thống kê, thuyết này cho rằng những thay đổi giá liên tiếp là các biến ngẫu nhiên độc lập, có phân phối giống nhau. Điều này ám chỉ rằng chuỗi thay đổi giá là “không có bộ nhớ”, nghĩa là không thể sử dụng dữ liệu quá khứ để dự đoán tương lai. Tuy vậy lại có những học giả tin vào “Thuyết bước đi không ngẫu nhiên”. Thuyết này được phát triển dựa trên một trong những giả định quan trọng rằng lợi nhuận hiện tại phụ thuộc vào các quyết định được đưa ra trong quá khứ.
Sự liên kết giữa các hành động trong quá khứ và hiện tại mang lại cho các nhà nghiên cứu một lượng thông tin được gọi là "lịch sử giá". Điều này dẫn đến ý tưởng là “lịch sử lặp lại chính nó” (History repeats itself), trong đó các hành vi giá trong quá khứ sẽ có xu hướng tái diễn trong tương lai.4 Tổng quan nghiên cứu. Trong những năm qua, đã có nhiều nỗ lực để phát triển các mô hình dự báo trong lĩnh vực kinh tế, từ dự báo tỷ giá hối đoái và lãi suất cho đến việc sử dụng các mô hình để dự đoán giá cả hàng hóa và lợi nhuận của các tài sản tài chính. Mặc dù một số nghiên cứu đã thành công trong việc triển khai các mô hình, việc tìm ra một mô hình phù hợp để dự đoán lợi nhuận trên tài sản tài chính vẫn còn là thách thức lớn đối với các nhà nghiên cứu và chuyên gia kinh tế tài chính.
Điều này đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu của những học giả tin vào “Thuyết bước đi ngẫu nhiên” có thể kể đến: Bellgard và Goldschmidt (1999) thực hiện tại thị trường Mỹ, hai tác giả đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng bao gồm làm mịn lũy thừa, bước đi ngẫu nhiên và mô hình ARIMA để dự đoán tỷ giá hối đoái AUD/USD. Tuy nhiên, kết quả cho thấy rằng sử dụng các biện pháp trong việc dự báo thống kê không ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và tỷ giá hối đoái. Thay vào đó, chuỗi thời gian các mẫu phi tuyến tính được giải thích tốt hơn bằng cách sử dụng mô hình mạng thần kinh. Một nghiên cứu khác cũng ủng hộ lý thuyết “Bước đi ngẫu nhiên” là của Lock (2007).
Sau khi thực hiện kiểm tra tỷ lệ phương sai Lo và MacKinlay trên lợi nhuận hàng tuần từ TTCK Đài Loan từ năm 1990 đến giữa năm 2006, tác giả kết luận rằng không chỉ có chỉ số chứng khoán tổng hợp của Đài Loan (Taiex Index) biến động ngẫu nhiên mà cổ phiếu cá nhân cũng có xu hướng di chuyển tương tự. Tuy vậy một số nghiên cứu gần đây của các học giả lại ủng hộ giả thuyết “Bước đi không ngẫu nhiên” (Non-Random walk theory) của giá cổ phiếu, có thể kể đến như: Nghiên cứu của Awazu và Weisang (2008) với đối tượng nghiên cứu là tỷ giá hối đoái USD/EUR. Đề tài nghiên cứu sử dụng mô hình ARIMA trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 1994 đến tháng 10 năm 2007.