Chương 1, nhóm tác giả cũng giới thiệu khái quát về làng Xuân La và nghề nặn Tò he, làm cơ sở và tiền đề để làm rõ thực trạng việc ứng dụng công nghệ số trong truyền thông cho sản phẩm Tò he ở làng Xuân La trong chương 2. 17 Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ SỐ ĐỂ TRUYỀN THÔNG CHO SẢN PHẨM TÒ HE CỦA LÀNG XUÂN LA 2.Khái quát về làng Xuân La và nghề nặn Tò he 2. Làng Xuân La Làng Xuân La nay là thôn Xuân La, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 30km về phía nam. Từ trung tâm thành phố Hà Nội, theo đường quốc lộ 1A cũ khoảng 35 km, đến phố Nguộn (thuộc thôn Nguyên Hanh, xã Văn Tự, huyện Thường Tín) rẽ phải, qua đường sắt Bắc - Nam khoảng 3km, đến địa phận thôn Văn Hội (xã Đại Thắng, Phú Xuyên), lại rẽ tay phải khoảng 1km là đến địa phận làng Xuân La.
Làng Xuân La có vị trí phía bắc giáp với địa phận làng/thôn Phượng Vũ cùng xã, phía đông bắc giáp với xã Văn Tự (huyện Thường Tín), đông nam giáp với xã Đại Thắng và tây nam giáp với xã Văn Hoàng (huyện Phú Xuyên). Xuân La là một làng quê có lịch sử lâu đời, quá trình hình thành phát triển của làng gắn liền với nền văn minh châu thổ sông Hồng. Năm 1983, khi đào ao lấy đất, người dân ở đây đã phát hiện được khu mộ cổ hình thuyền gồm bảy quan tài thân cây khoét rỗng. Trong quan tài có thi hài, các đồ tùy táng như thạp đồng, chén, lao, giáo, tiền đồng.
Vào năm 1994, cũng tại Xuân La, gia đình bà Lê Thị Dệnh trong khi đào đất làm ao tại khu Dộc Ngòi, đã phát hiện được một chiếc trống đồng, bên cạnh trống có nhiều gỗ mục của một quan tài hình thuyền. Các nhà khảo cổ học xác định, trống đồng này là trống đồng Hê - gơ loại 1, thuộc nền văn hóa Đông Sơn. Ngoài di chỉ tại Xuân La, các nhà khảo cổ còn phát hiện nhiều di vật có niên đại xa xưa tại những địa bàn lân cận. Từ các tư liệu này, có thể cho rằng, khu vực Xuân La và các làng xung quanh đã có người Việt cổ sinh sống khá sớm.
Theo thời gian, nhiều nhóm gia đình, dòng họ từ nhiều nơi, với những thời gian sớm muộn khác nhau đã hội tụ về đây khai phá miền đất trũng tạo nên xóm, nên làng. 18 Ngày nay, dân số của làng đã tăng lên rất nhiều. Theo số liệu điều tra năm 2024, thôn Xuân La có 1.050 khẩu, đông dân nhất xã. Số hộ, khẩu của xã Phượng Dực năm 2024 STT Thôn Số hộ Số khẩu Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % so cả xã so cả xã 1 Xuân La 1.152 100 [Nguồn: Ủy ban nhân dân xã Phượng Dực] Làng Xuân La nằm trong vùng đất trũng của châu thổ Bắc Bộ, điều kiện kinh tế trước đây rất khó khăn.
Về nông nghiệp, cả năm người dân chỉ cấy được một vụ lúa, nhưng năng xuất rất thấp, không đảm bảo được cuộc sống. Chính vì vậy, người dân ở đây phải bươn trải, tìm đủ mọi nghề để kiếm sống như làm bánh đa, cào bông, nấu rượu,.trong đó có nghề nặn Tò he. Nghề nặn Tò he Lịch sử hình thành nghề nặn tò he Nghề Tò he ra đời từ bao giờ đến nay vẫn còn là một câu hỏi chưa có lời đáp từ phía các nhà nghiên cứu. Tò he, còn được gọi dân dã là nặn con giống.
Để làm ra những sản phẩm này, những người dân ở làng Xuân La đã dùng bột gạo giã nhỏ, đem hấp chín, lấy bột đó pha trộn với các loại màu sắc có nguồn gốc từ tự nhiên nặn thành hình cỏ cây, hoa lá, động vật gần gũi với cuộc sống của con người cho trẻ em chơi. Sau phát triển thành một sản phẩm hàng hóa, đem bán ở các chợ quê, vừa phục vụ nhu cầu trẻ em (chơi xong trẻ em còn ăn được), vừa phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của người dân, đó là một số linh vật hoặc hoa quả được nặn để bán cho người đi lễ đền, chùa, miếu phủ… Vào khoảng những năm 1950 của thế kỷ trước, cụ Vũ Văn Sai (1915 - 1992) đã học được cách nặn mới, mang về làng. Đó là phương pháp nặn Tò he trực tiếp trên que tre mà không phải làm trên khuôn như trước, mất rất nhiều công đoạn. Theo cách nặn mới này, để nặn ra một sản phẩm, chỉ cần bột gạo, phẩm màu, những 19 chiếc que tre, một con dao nhỏ, một chiếc lược nhỏ.
Người làm nghề có thể mang bột đi nặn lưu động ở các nơi, trực tiếp “biểu diễn” cho người xem và mua, rất “cơ động” và tiện lợi. Phương pháp nặn mới và cũ cùng song hành tồn tại. Đề tài của tò he thường là những nhân vật trong truyện cổ tích Việt Nam như Tấm Cám, Thạch Sanh,. hoặc các tích truyện của Trung Quốc như Tam Quốc diễn nghĩa, Tây Du Ký với các nhân vật Quan Công, Trương Phi, Triệu Tử Long, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới,.Ngoài ra còn có đề tài các con vật như 12 con giáp, hoặc chim cò, hoa lá, gần gũi với cuộc sống của người nông dân, đáp ứng nhu cầu chơi của trẻ em; các hình tượng “tứ linh” (long, ly, quy, phượng), một số hoa, quả và lễ vật để phục vụ nhu cầu của người đi lễ đền chùa, miếu, phủ vào các dịp lễ, tết.
Về hoạt động tiêu thụ Tò he: Trước tháng 10 - 1954, ngoài các chợ trong vùng, tò he còn được tiêu thụ tại các lễ hội và các chợ khắp miền Bắc. Nhiều người làm nghề làng Xuân La còn vào tận các tỉnh miền Trung như Thanh Hóa, Nghệ An và Kinh thành Huế…để nặn và bán Tò he. Như vậy, sản phẩm Tò he không chỉ có mặt tại nhiều nơi trên miền Bắc và còn được đưa vào tận miền Trung, sau này là cả miền Nam. Hình ảnh những con giống bằng bột gạo sống động, ngộ nghĩnh đã trở nên gần gũi, quen thuộc và thích thú đối với nhiều thế hệ trẻ em Việt Nam.
Tò he là sản phẩm đồ chơi dân gian độc đáo ở Việt Nam do những người nông dân ở làng Xuân La tiếp thu, sáng tạo, bảo tồn và phát huy, chứa đựng giá trị nghệ thuật và giá trị thẩm mỹ cao. Chỉ với chất liệu đơn giản, sẵn có là bột gạo, phẩm màu từ thiên nhiên, họ đã sáng tạo nên những hình tượng sinh động về con người, cỏ cây, hoa lá, chim muông, động vật…rất gần gũi với cuộc sống của người nông dân Việt Nam. Bên cạnh đó, họ cũng sáng tạo ra những hình tượng các anh hùng, tướng lĩnh trong lịch sử Việt Nam nhằm mục đích giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào về lịch sử dân tộc cho trẻ em. Từ đó nghề nặn Tò he còn mang ý nghĩa giáo dục và tính nhân văn sâu sắc.
Trên cơ sở nghề ngày càng được quan tâm, phát triển, ngày 26/5/2009 CLB Tò he Xuân La được thành lập vào với số hội viên ban đầu là 54 người. CLB được mở ra với tiêu chí là đoàn kết, tập hợp những nghệ nhân trong làng nghề lại với nhau, cùng chung tay giữ gìn và phát triển làng nghề do cha ông xưa để lại. Đến 20 nay, câu lạc bộ đã đạt được một số thành công bước đầu như được Trung ương Hội Di sản Văn hóa Việt Nam chấp nhận cho thành lập Chi hội Di sản Văn hóa Làng nghề truyền thống, lấy nòng cốt là CLB, nhằm duy trì và phát triển làng nghề và số hội viên đã tăng lên trên 100 người. Các thành viên CLB vừa hỗ trợ, giúp nhau làm nghề, trao đổi các thông tin về sản phẩm, khách hàng, vừa trực tiếp làm công tác truyền thông cho sản phẩm Tò he.
Nhiều nghệ nhân của làng được mời đến giới thiệu quảng bá và hướng dẫn nặn Tò he cho học sinh, sinh viên các trường học. Chính vì vậy, hoạt động truyền thông cho Tò he, và gần đây là việc sử dụng công nghệ số để truyền thông cho sản phẩm Tò he ở Xuân La lại càng được đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Thực trạng hoạt động truyền thông sản phẩm Tò He trước thời kỳ chuyển đổi số Trước thời kỳ chuyển đổi số, hình thức truyền thông truyền thống đã đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Về bản chất, Tò he vốn là một sản phẩm thủ công truyền thống gắn với không gian làng quê, chủ yếu được truyền thông thông qua các hình thức trực tiếp như truyền miệng, giới thiệu tại hội chợ, lễ hội văn hóa, các sự kiện cộng đồng.
Phương thức này mang tính địa phương hóa rất cao, khiến Tò He chỉ hiện diện ở một số khu vực nhất định và chủ yếu tiếp cận với công chúng trong bối cảnh mang tính lễ hội hoặc du lịch trải nghiệm. Đây là hình thức truyền thông sử dụng những phương tiện và các phương pháp mang tính lịch sử văn hóa lâu đời, nó thường gắn liền với văn hóa cộng đồng, giúp tạo, đóng góp nên sự kết nối quá khứ và hiện tại. Các hình thức truyền thống có thể kể đến như hội thảo, tọa đàm, triển lãm, sách, báo in, truyền hình, phát thanh,. đó là những kênh hiệu quả để quảng bá hình ảnh Tò he.
Qua những hoạt động này không chỉ khách hàng mà cả các nhà nghiên cứu, học giả cũng được tiếp cận và trau dồi thêm kiến thức với nghề truyền thống này. Truyền thông truyền thống còn mang đến tính chân thực, khách quan cụ thể nhất bởi sự tương tác trực tiếp, tạo cảm giác gần gũi hay thân thiện với cộng đồng. 21 Ngoài ra việc quảng bá sản phẩm hoàn toàn trực tiếp tại các hội chợ, lễ hội, sự kiện văn hóa cộng đồng hoặc truyền miệng giữa nghệ nhân với du khách. Các kênh truyền thông đại chúng như báo in, truyền hình hay phát thanh đôi khi có đề cập tới Tò he, song đây cũng chỉ dưới dạng tin tức đơn lẻ, thiếu chiều sâu và không tạo được sự lan tỏa lâu dài.
Đặc biệt, việc truyền thông mang tính mùa vụ chủ yếu diễn ra vào các dịp lễ hội như Tết Trung thu, Rằm tháng Giêng đây là lý do khiến cho sản phẩm Tò he không thể duy trì sự hiện diện ổn định trong tâm trí công chúng. Một hạn chế nổi bật khi mà nhóm tác giả khảo sát tại địa phương thấy được đó là thiếu nền tảng để lưu giữ, lan tỏa giá trị văn hóa mà sản phẩm Tò He mang lại.