PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do xây dựng đề án Quyền của phụ nữ và trẻ em là những giá trị được cộng đồng quốc tế cũng như các quốc gia công nhận, tôn trọng, bảo vệ và cam kết thực hiện. Đây là thước đo quan trọng đánh giá sự tiến bộ và phát triển của một xã hội. Trong pháp luật quốc tế, nhiều văn bản pháp lý đã được ban hành nhằm công nhận, thực thi và bảo vệ quyền con người, tiêu biểu là Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966; Công ước về loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) năm 1979.
Nhận thức sâu sắc về giá trị cốt lõi của quyền con người, cộng đồng quốc tế đã không ngừng nỗ lực xây dựng một hệ thống pháp lý toàn diện để bảo vệ và thúc đẩy quyền của mỗi cá nhân. Việt Nam, với tư cách là một thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế, luôn nhất quán chủ trương bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Điều này được thể hiện rõ trong Hiến pháp năm 2013 tại Điều 14 đã khẳng định việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm đầy đủ các quyền con người, quyền công dân thuộc các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội. Quyền con người ngày càng được chú trọng và mở rộng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có quyền của phụ nữ và trẻ em.
Là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, phụ nữ và trẻ em không chỉ cần được bảo vệ khỏi các hành vi bạo lực, phân biệt đối xử mà còn cần được tạo điều kiện để phát triển toàn diện, bình đẳng trong mọi mặt của đời sống. Đặc biệt, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (HN&GĐ), quyền của phụ nữ và trẻ em đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một nền tảng gia đình bền vững, lành mạnh. Việc bảo đảm các quyền này không chỉ thể hiện tính nhân văn của pháp luật mà còn góp phần duy trì sự ổn định của xã hội. Nhận thức được điều đó, pháp luật Việt Nam đã có những quy định chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em trong quan hệ HN&GĐ, thể hiện rõ trong Luật HN&GĐ năm 2014 cũng như các văn bản pháp luật liên quan.
Tuy nhiên, để các quy định này được thực thi hiệu quả, vai trò của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là vô cùng quan trọng. Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ về chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND. Trên cơ sở ii LỜI CẢM ƠN Đề án này là kết quả của quá trình học tập nghiêm túc, nghiên cứu miệt mài, kết hợp với sự hướng dẫn tận tình của quý thầy, cô giảng viên tại Học viện hành chính và Quản trị công. Nhờ những kiến thức chuyên sâu được trang bị và kinh nghiệm thực tiễn được tích lũy, cũng như sự nỗ lực và trách nhiệm của bản thân mà tôi đã hoàn thành đề án.
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS. Đặng Thị An Liên, người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình chỉ dạy cho tôi về kiến thức cũng như phương pháp nghiên cứu trong thời gian tôi thực hiện đề án. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giảng viên của Học viện Hành chính và Quản trị công tại Hà Nội và Phân hiệu Tây Nguyên; thầy chủ nhiệm lớp LH9TN2, bạn bè đồng môn và các đồng nghiệp trong Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề án tốt nghiệp. Mặc dù bản thân tôi đã nỗ lực cố gắng, nhưng trong đề án không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy, cô, các đồng nghiệp và bạn bè để đề án được hoàn thiện hơn.
Đắk Lắk, ngày tháng năm 2025 Tác giả đề án Trương Thị Thu thủy vi NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK. Khái quát chung về Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Thực trạng bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Đánh giá thực trạng bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk .39 TIỂU KẾT CHƯƠNG II .54 CHƯƠNG III .55 GIẢI PHÁP VÀ LỘ TRÌNH THỰC HIỆN BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK.
Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Lộ trình thực hiện bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk .65 TIỂU KẾT CHƯƠNG III .70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. d 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do xây dựng đề án Quyền của phụ nữ và trẻ em là những giá trị được cộng đồng quốc tế cũng như các quốc gia công nhận, tôn trọng, bảo vệ và cam kết thực hiện.
Đây là thước đo quan trọng đánh giá sự tiến bộ và phát triển của một xã hội. Trong pháp luật quốc tế, nhiều văn bản pháp lý đã được ban hành nhằm công nhận, thực thi và bảo vệ quyền con người, tiêu biểu là Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966; Công ước về loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) năm 1979. Nhận thức sâu sắc về giá trị cốt lõi của quyền con người, cộng đồng quốc tế đã không ngừng nỗ lực xây dựng một hệ thống pháp lý toàn diện để bảo vệ và thúc đẩy quyền của mỗi cá nhân. Việt Nam, với tư cách là một thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế, luôn nhất quán chủ trương bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.
Điều này được thể hiện rõ trong Hiến pháp năm 2013 tại Điều 14 đã khẳng định việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm đầy đủ các quyền con người, quyền công dân thuộc các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội. Quyền con người ngày càng được chú trọng và mở rộng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có quyền của phụ nữ và trẻ em. Là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, phụ nữ và trẻ em không chỉ cần được bảo vệ khỏi các hành vi bạo lực, phân biệt đối xử mà còn cần được tạo điều kiện để phát triển toàn diện, bình đẳng trong mọi mặt của đời sống. Đặc biệt, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (HN&GĐ), quyền của phụ nữ và trẻ em đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một nền tảng gia đình bền vững, lành mạnh.
Việc bảo đảm các quyền này không chỉ thể hiện tính nhân văn của pháp luật mà còn góp phần duy trì sự ổn định của xã hội. Nhận thức được điều đó, pháp luật Việt Nam đã có những quy định chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em trong quan hệ HN&GĐ, thể hiện rõ trong Luật HN&GĐ năm 2014 cũng như các văn bản pháp luật liên quan. Tuy nhiên, để các quy định này được thực thi hiệu quả, vai trò của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là vô cùng quan trọng. Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ về chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND.
Trên cơ sở v MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN. ii DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT. iii DANH MỤC CÁC BẢNG. iv PHẦN MỞ ĐẦU.
Lý do xây dựng đề án. Tổng quan tình hình nghiên cứu. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề án. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề án.
Phương pháp nghiên cứu. Hiệu quả của đề án ứng dụng trong thực tiễn .8 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN. Khái quát về bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em trong các vụ việc hôn nhân và gia đình. Những vấn đề cơ bản về bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình tại Viện kiểm sát nhân dân.
Các yếu tố tác động đến bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em trong hoạt động giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình tại Viện kiểm sát nhân dân .23 TIỂU KẾT CHƯƠNG I .27 CHƯƠNG II .28 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC HÔN iv DANH MỤC CÁC BẢNG Tên bảng biểu Trang Bảng 1. Số lượng vụ việc HN&GĐ thụ lý và giải quyết theo thủ tục 40 sơ thẩm từ năm 2021 đến năm 2025 Bảng 2. Số lượng vụ việc HN&GĐ thụ lý và giải quyết theo thủ tục 41 phúc thẩm từ năm 2021 đến năm 2025 Bảng 3. Số vụ việc HN&GĐ xét xử theo thủ tục sơ thẩm và phúc thẩm 43 giai đoạn năm 2021 đến năm 2025 Bảng 4.
Số lượng bản án, quyết định HN&GĐ sơ thẩm và phúc thẩm 44 giai đoạn năm 2021 đến năm 2025 ii LỜI CẢM ƠN Đề án này là kết quả của quá trình học tập nghiêm túc, nghiên cứu miệt mài, kết hợp với sự hướng dẫn tận tình của quý thầy, cô giảng viên tại Học viện hành chính và Quản trị công. Nhờ những kiến thức chuyên sâu được trang bị và kinh nghiệm thực tiễn được tích lũy, cũng như sự nỗ lực và trách nhiệm của bản thân mà tôi đã hoàn thành đề án. Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS. Đặng Thị An Liên, người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình chỉ dạy cho tôi về kiến thức cũng như phương pháp nghiên cứu trong thời gian tôi thực hiện đề án.