Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, bao gồm phát biểu vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi đề tài, ý nghĩa nghiên cứu, bố cục của nghiên cứu. Chương 2 trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết thông qua các lý thuyết, các khái niệm của các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương 3 mô tả về phương pháp nghiên cứu được sử dụng, cụ thể gồm quy trình nghiên cứu, thu thập dữ liệu và các phương pháp phân tích dữ liệu. Chương 4 diễn giải cách thức, kết quả phân tích dữ liệu và kiểm định các giả thuyết của nghiên cứu.
Cuối cùng, chương 5 trình bày các kết luận, đóng góp và kiến nghị về mặt chiến lược mang tính gợi mở cho các tổ chức du lịch mong muốn phát triển loại hình du lịch tình nguyện trong bối cảnh hiện nay. 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 giới thiệu các khái niệm chính, tổng quan cơ sở lý thuyết của du lịch tình nguyện, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu và thang đo các khái niệm trong mô hình nghiên cứu. Các khái niệm chính 2. Khái niệm về du lịch tình nguyện Theo Wearing (2001), du khách tham gia du lịch tình nguyện là những người đang tìm kiếm một kinh nghiệm du lịch mang đến lợi ích song phương vốn không chỉ nhằm mục tiêu phát triển bản thân, mà còn đóng góp một cách tích cực và trực tiếp đến sự phát triển của xã hội, tự nhiên, kinh tế tại địa phương mà họ gắn kết trong chuyến đi.
Khái niệm về du lịch tình nguyện có sự liên quan mạnh mẽ đến các khái niệm về du lịch bền vững và sự phát triển bền vững (Raymond và Hall, 2008). Khác với du lịch đại trà vốn là phương thức giúp con người khám phá điều mới lạ và trải nghiệm bản thân, du lịch tình nguyện là phương thức du lịch mà người tham gia sẽ trải qua thời gian hòa mình vào một nền văn hóa khác, trở thành một thành viên và đóng góp cho cộng đồng mới, cũng như trải nghiệm cuộc sống theo một cách khác biệt. Hoạt động tình nguyện có thể bao gồm nghiên cứu khoa học về cuộc sống hoang dã, đất đai và nguồn nước, các dự án hỗ trợ về y tế, phát triển khoa học xã hội, bảo tồn tự nhiên và văn hóa. Đây là cơ hội giúp cho du khách tham gia vào các hoạt động tương tác với cộng đồng địa phương, thể hiện lòng từ tâm và mong muốn phát triển bản thân.
“Khi những tình nguyện viên trở về, họ cảm thấy có sức mạnh, hiểu rằng họ có khả năng tạo ra sự khác biệt. Bạn về nhà và cảm thấy bạn không có giới hạn. Bạn cảm thấy tự tin hơn với suy nghĩ và niềm tin rằng bạn có thể đóng góp cho xã hội” (Hill, 2001, tr. Du khách tham gia du lịch tình nguyện thông thường sẽ chi trả theo một vài phương thức nào đó để tham gia vào các hoạt động này, có thể cao hơn mức trung bình mà 5 một du khách tham gia du lịch “bình thường” phải trả cho cùng một điểm đến.
Trong một số chương trình được tài trợ, khi sự đóng góp tài chính có thể là trách nhiệm của các nhà tài trợ, người tham gia thường phải có kinh nghiệm sâu rộng hơn và mang lại lợi ích nhiều hơn cho cộng đồng. Khái niệm về động lực Động lực là một cấu trúc lý thuyết được sử dụng để giải thích sự bắt đầu, phương hướng, cường độ, sự kiên trì và chất lượng của hành vi, đặc biệt là hành vi mang tính mục đích (Maehr và Meyer, 1997). Theo Heckhausen và Heckhausen (2008), tâm lý học động lực đặc biệt quan tâm đến các hoạt động phản ánh việc theo đuổi một mục tiêu cụ thể và có chức năng hình thành một đơn vị hành vi có ý nghĩa. Nghiên cứu động lực tìm kiếm lời giải thích cho các đơn vị hành vi này dưới dạng các lý do và cách thức thực hiện chúng.
Các câu hỏi về lý do thực hiện hoạt động của con người thể hiện các mục đích từ các quan điểm khác nhau: - Các đơn vị hành vi khác nhau có thể được thực hiện cho một mục tiêu hay một phân loại mục tiêu và được khác biệt hóa so với các phân loại mục tiêu khác hay không? - Các phân loại mục tiêu này phát triển như thế nào trong quy trình phát triển của cá nhân và những khác biệt cá nhân tồn tại trong vấn đề này là gì? - Tại sao các điều kiện hoàn cảnh cụ thể thúc đẩy con người lựa chọn các hoạt động hướng đến mục tiêu cụ thể thay vì những hoạt động khác và theo đuổi chúng với một lượng thời gian và năng lượng nhất định? Các câu hỏi về cách thức thực hiện được quan tâm muộn hơn, ví dụ như cách thức thật sự mà con người thực hiện hay từ bỏ một quy trình hành động vốn đã được quyết định từ trước. Theo Solomon (2012), động lực liên quan đến quá trình dẫn dắt con người cư xử theo cách của họ. Nó xảy ra khi nhu cầu được khơi dậy và con người mong muốn được thỏa mãn. Nhu cầu tạo ra một trạng thái căng thẳng, từ đó khiến con người nỗ lực để làm giảm hoặc loại trừ sự căng thẳng đó.
Nhu cầu này có thể mang tính thực dụng như khao khát đạt được một số lợi ích chức năng hay lợi ích thực tế hay lợi 6 ích mang tính hưởng thụ như nhu cầu đáp ứng cảm xúc. Cường độ của căng thẳng quyết định sự cấp bách mà khách hàng cảm thấy cần giải tỏa. Mức độ khơi gợi này được gọi là xu thế. Một nhu cầu căn bản có thể được thỏa mãn bằng nhiều cách và con đường cụ thể mà một cá nhân chọn lựa bị ảnh hưởng bởi tập hợp các kinh nghiệm riêng có và giá trị đã thấm nhuần trong văn hóa của cá nhân đó.
Mong muốn là một biểu hiện của nhu cầu mà các yếu tố cá nhân và yếu tố văn hóa này được kết hợp với nhau. Do đó, con đường cụ thể để giảm xu thế căng thẳng được quyết định mang tính cá nhân và tính văn hóa. Trạng thái chấm dứt khao khát chính là mục tiêu. Các nhà tiếp thị cố gắng tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ cung cấp các lợi ích được khách hàng khao khát và giúp khách hàng giảm bớt căng thẳng.
Nhìn chung, lý thuyết động lực mô tả một quá trình năng động của các yếu tố tâm lý nội tại dưới dạng nhu cầu, mong muốn và mục đích, những thứ tạo ra mức độ căng thẳng và không thoải mái bên trong suy nghĩ và cơ thể của con người (Fodness, 1994). Những nhu cầu nội tại thúc đẩy các hành động được kích hoạt để thỏa mãn các nhu cầu. Con người cần thỏa mãn các nhu cầu bậc thấp và theo một cách lý tưởng, con người sẽ tăng dần bậc nhu cầu cho đến khi động lực trọng yếu tập trung vào các mục đích “cao thượng” như công bằng hay chân, thiện, mỹ (Maslow, 1943). Tổng quan cơ sở lý thuyết 2.
Năm cấp nhu cầu của Maslow (1943) Maslow (1943) cho rằng có năm bộ mục tiêu, tương ứng với năm cấp nhu cầu cơ bản của con người từ thấp đến cao, bao gồm: nhu cầu thiết yếu, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu thể hiện mình. Trong đó ba nhu cầu nhu cầu thiết yếu, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội là các nhu cầu cấp thấp. Hai nhu cầu còn lại là các nhu cầu cấp cao. Con người được thúc đẩy bởi khát khao đạt được hay có được những điều kiện khác nhau dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu cấp thấp và dựa trên các khao khát nhất định ở mức độ cao hơn.
Khi một nhu cầu được thỏa mãn tương đối tốt, nhu cầu cao hơn sẽ xuất hiện và đến lượt nó chiếm giữ ý thức của cuộc sống và đóng vai trò trung tâm trong việc tổ chức hành vi trong khi các nhu cầu thấp hơn không còn là các động lực có ý nghĩa nữa. Dựa trên thang nhu 7 cầu của Maslow, Pearce (1993) đưa ra năm cấp độ của thang du lịch nghề nghiệp: sự thư giãn, sự kích thích, mối quan hệ, tự phát triển bản thân và tự hoàn thiện. Tiếp theo, Pearce và Lee (2005) đã tìm ra 14 nhân tố động lực trong mô hình thang đo du lịch nghề nghiệp. Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng động lực của du khách vốn rất khác biệt dựa trên các trải nghiệm trong cuộc sống và qua các chuyến du lịch của họ.
Sau này, Lee (2011) đã sử dụng Pearce and Lee (2005) làm nền tảng để xây dựng thang đo cho các biến động lực trong nghiên cứu về dự định tham gia du lịch tình nguyện của mình. Mô hình “đẩy – kéo” của Crompton (1979) Trong lĩnh vực du lịch, Crompton (1979) đưa ra mô hình “đẩy – kéo” trong việc xác định các động lực ảnh hưởng đến việc lựa chọn loại hình và nơi chốn của một kỳ nghỉ hài lòng và được mô hình hóa như Hình 2.1 Khái niệm về vai trò và các quan hệ của các động lực của du khách Nguồn: Crompton, 1979 Các động lực đẩy còn gọi là các động lực xã hội – tâm lý, bao gồm: 8 - Trốn chạy khỏi môi trường được nhận thức là thế tục: một sự thay đổi tạm thời môi trường sống và làm việc quen thuộc. - Khám phá và đánh giá bản thân: kỳ nghỉ là một cơ hội để tái đánh giá và khám phá nhiều hơn về bản thân hay để tạo ra những hình ảnh về bản thân và thực hiện việc tinh chỉnh hay sửa đổi chúng. - Thư giãn: nhắm đến thư giãn về mặt tinh thần hơn là thể chất.
- Được ngưỡng mộ: tuy nhiên khả năng được ngưỡng mộ biến mất cùng với tần số xuất hiện. - Ngoan đồng: cơ hội để làm những việc không tưởng trong khuôn khổ cách sống thông thường của họ. Những người tham gia thực hiện những hành vi trẻ con, không hợp lý và gợi nhớ về hành vi của trẻ vị thành niên hoặc trẻ con hơn là của người lớn. - Tăng cường quan hệ gia đình.
- Tạo thuận lợi cho sự tương tác xã hội. Các động lực kéo là các động lực văn hóa được khơi gợi từ địa điểm đến hơn là các động lực xuất phát từ bản thân du khách, bao gồm: - Tính mới mẻ: được định nghĩa theo nhiều cách như sự tò mò, tính phiêu lưu, sự mới mẻ và sự khác biệt.