Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, tiếng Anh ngày càng trở nên quan trọng trên phạm vi quốc tế. Ở Việt Nam, sinh viên không những phải học tiếng Anh như một môn học bắt buộc mà còn phải đạt được trình độ nhất định để phục vụ công việc và phát triển nghề nghiệp trong tương lai. Tại Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (HUBT), mặc dù đầu tư nhiều công sức cho việc dạy và học tiếng Anh, nhiều sinh viên vẫn chưa đạt được hiệu quả cao trong quá trình học tập. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích điều tra động lực học tiếng Anh của sinh viên năm thứ hai tại Khoa này, tập trung phân tích động lực nội tại (intrinsic motivation) và động lực ngoại tại (extrinsic motivation), đồng thời làm rõ các yếu tố làm giảm động lực (demotivating factors) trong quá trình học. Dữ liệu được thu thập từ 269 sinh viên tham gia trả lời bảng câu hỏi và 20 sinh viên được phỏng vấn bán cấu trúc trực tuyến. Thời gian nghiên cứu tập trung vào năm học 2010-2011 tại Khoa Tài chính - Ngân hàng của HUBT. Ý nghĩa của nghiên cứu không chỉ giúp hiểu rõ hơn về động lực học tiếng Anh mà còn hỗ trợ các giảng viên thiết kế phương pháp giảng dạy, cải thiện môi trường học tập, từ đó nâng cao kết quả học tập của sinh viên. Các chỉ số đo lường bao gồm tỷ lệ sinh viên có động lực nội tại và ngoại tại, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố gây mất động lực, cùng các đề xuất cụ thể nhằm tăng cường hiệu quả học tập.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên hai lý thuyết trọng tâm về động lực học ngoại ngữ: (1) Lý thuyết phân loại động lực của Gardner gồm động lực tích hợp (integrative motivation) và động lực công cụ (instrumental motivation), trong đó động lực tích hợp phản ánh thái độ tích cực đối với cộng đồng ngôn ngữ đích, còn động lực công cụ liên quan đến các mục tiêu thực dụng như xin việc, thi cử; (2) Lý thuyết động lực nội tại và ngoại tại của Deci và Ryan, phân biệt động lực nội tại là sự thúc đẩy học tập từ sự hứng thú, đam mê với hoạt động học tập, còn động lực ngoại tại là do các tác nhân bên ngoài như khen thưởng, yêu cầu xã hội. Nghiên cứu cũng khảo sát các yếu tố làm giảm động lực dựa trên mô hình của Dörnyei, phân loại demotivation thành các nhóm như yếu tố liên quan đến học sinh, giáo viên, môi trường học tập và đặc điểm môn học. Các khái niệm chính bao gồm: động lực nội tại, động lực ngoại tại, demotivation, yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến động lực.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp gồm khảo sát định lượng và phỏng vấn định tính nhằm thu thập thông tin đa dạng, sâu sắc về động lực học tiếng Anh của sinh viên. Mẫu nghiên cứu gồm 269 sinh viên năm thứ hai Khoa Tài chính - Ngân hàng, HUBT, trong tổng số 900 sinh viên được mời tham gia, với tỷ lệ tham gia khoảng 29,9%. Mẫu này được chọn dựa trên điều kiện sử dụng Internet thường xuyên nhằm thuận tiện cho việc thu thập dữ liệu trực tuyến. Bảng câu hỏi được thiết kế gồm 30 mục về: động lực nội tại và ngoại tại (10 câu), yếu tố gây mất động lực (20 câu), sử dụng thang Likert 5 điểm để đo lường mức độ đồng tình. Bảng câu hỏi đã được thử nghiệm trước với 60 sinh viên để đảm bảo tính hợp lệ và điều chỉnh phù hợp. Phỏng vấn bán cấu trúc được thực hiện với 20 sinh viên, chia đều thành nhóm có động lực nội tại và ngoại tại để làm rõ các nhận thức sâu sắc hơn. Thời gian thực hiện khảo sát rơi vào cuối năm học 2010 trước khi triển khai khóa học mới. Dữ liệu định lượng được xử lý bằng Excel, sử dụng các hàm thống kê cơ bản như DCOUNT, SUM, AVERAGE; dữ liệu phỏng vấn được phân tích nội dung một cách thủ công nhằm xác định các chủ đề liên quan đến động lực và demotivation.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Sinh viên có động lực ngoại tại mạnh mẽ hơn động lực nội tại: 72,7% sinh viên tham gia khảo sát thể hiện động lực ngoại tại cao hơn, trong khi chỉ khoảng 46% có động lực nội tại rõ ràng. Tất cả sinh viên (100%) đều học tiếng Anh để đảm bảo cơ hội việc làm tốt trong tương lai; 90% khẳng định mọi người Việt Nam nên biết tiếng Anh; 76,6% học để giao tiếp với người nước ngoài. Ngược lại, chỉ 32% sinh viên thích thử thách trong học tiếng Anh.
  2. Các yếu tố gây mất động lực phổ biến: Các yếu tố liên quan đến đặc điểm môn học chiếm tỉ lệ cao nhất trong các yếu tố gây mất động lực, với 75,8% sinh viên cho rằng ngữ âm tiếng Anh phức tạp ảnh hưởng tiêu cực đến hứng thú học tập; 70,6% thấy từ vựng quá nhiều và khó nhớ; 58,3% thường xuyên cảm thấy học không hiệu quả dù cố gắng. 68,4% cảm thấy thiếu cơ hội sử dụng tiếng Anh bên ngoài lớp học, trong khi 70,6% bị ảnh hưởng bởi bầu không khí lớp học nhàm chán, yên lặng.
  3. Ảnh hưởng của giáo viên: 48,5% sinh viên nhận thấy giáo viên có tác động tiêu cực đến động lực học, trong đó 67,2% than phiền giáo viên thiếu nhiệt huyết; 66,5% từng bị giáo viên chê trách gây mất tự tin; 54,3% không hài lòng về trình độ chuyên môn của giáo viên; cùng 46% thấy phương pháp giảng dạy nhàm chán hoặc không đồng nhất giữa các giáo viên.
  4. Yếu tố nội tại của sinh viên: 44,3% sinh viên cho biết sự thiếu tự tin và trải nghiệm thất bại, mất căn bản kiến thức ảnh hưởng nghiêm trọng tới động lực học tiếng Anh.

Thảo luận kết quả

Lý giải cho việc động lực ngoại tại vượt trội động lực nội tại có thể là do sinh viên Khoa Tài chính - Ngân hàng chủ yếu học tiếng Anh vì mục đích thực tế, phục vụ nghề nghiệp, công việc tương lai – điều này phù hợp với quan điểm của Gardner về động lực công cụ. Cũng có thể thấy từ đối tượng khảo sát, các bạn có xu hướng tập trung vào lợi ích bên ngoài hơn là niềm đam mê tự nhiên với tiếng Anh. Tuy nhiên, vẫn có tỷ lệ đáng kể sinh viên bộc lộ động lực nội tại qua sự thích thú, hứng khởi học tập, thể hiện nhu cầu phát triển cá nhân vượt lên trên yêu cầu bắt buộc. Các yếu tố gây mất động lực phản ánh rõ những điểm hạn chế trong quá trình học: môn học với cấu trúc, phát âm tiếng Anh phức tạp, khối lượng từ lớn, hạn chế về môi trường thực hành ngoại ngữ cũng như phương pháp sư phạm còn chưa thật sự hiệu quả và đồng nhất. Bầu không khí lớp học thiếu sự tương tác, sự hỗ trợ từ bạn bè cũng như áp lực từ giáo viên vô tình tạo ra các “rào cản” tâm lý làm giảm nhiệt huyết học tập. Kết quả thích hợp được minh họa tốt trên các biểu đồ tần suất đồng ý các câu hỏi trong bảng khảo sát, qua đó hình ảnh rõ nét mức độ ảnh hưởng các nhân tố. So với các nghiên cứu trước tại Việt Nam và khu vực, kết quả nhấn mạnh sự cần thiết phải cân nhắc lại vai trò của môi trường học tập và phương pháp giảng dạy trong việc nâng cao động lực học tập, bên cạnh yếu tố cá nhân người học.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Đa dạng hóa hoạt động học tập, tăng cường thực hành kỹ năng giao tiếp: Giảng viên cần xây dựng các tình huống thực tế, mô phỏng kỹ năng đàm phán, viết báo cáo tài chính, giao tiếp qua điện thoại trong ngân hàng để nâng cao áp dụng tiếng Anh vào thực tiễn, đáp ứng động lực ngoại tại của sinh viên trong thời gian 1-2 năm tới.
  2. Cải thiện động lực nội tại bằng phương pháp giảng dạy cuốn hút: Tổ chức các trò chơi, hoạt động nhóm tương tác, học theo dự án tạo sự hấp dẫn, gia tăng sự tham gia tích cực của sinh viên; đào tạo giáo viên kỹ năng sử dụng phương pháp đổi mới giảng dạy; áp dụng trong một học kỳ và đánh giá kết quả để điều chỉnh phù hợp.
  3. Điều chỉnh chương trình học và đánh giá phù hợp với trình độ: Giảm bớt số lượng từ vựng phải học trong một học kỳ, tăng cường các bài tập nghe, nói, ngữ pháp đơn giản nhưng sát với thực tế; xây dựng chương trình phụ đạo hỗ trợ sinh viên yếu kém giúp chống mất động lực do thất bại; thực hiện trong kế hoạch đào tạo từ năm học tiếp theo.
  4. Quản lý lớp học, tạo môi trường học tập tích cực: Giảm tiếng ồn, đảm bảo sự tập trung, xây dựng nội quy lớp nghiêm túc nhưng thân thiện; tổ chức các câu lạc bộ tiếng Anh, các hoạt động ngoại khóa đều đặn nhằm tăng cơ hội thực hành ngôn ngữ ngoài giờ; giảng viên và nhà trường cần phối hợp thực hiện liên tục năm học.
  5. Nâng cao trình độ, thái độ và kỹ năng sư phạm giáo viên: Tổ chức tập huấn, đào tạo chuyên sâu về phương pháp giảng dạy hiện đại, kỹ năng quản lý lớp học, giao tiếp để tăng sức hấp dẫn và sự tin tưởng của sinh viên; áp dụng ngay kế hoạch đào tạo thường xuyên cho đội ngũ giảng viên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Giảng viên tiếng Anh tại các trường đại học, đặc biệt các khoa kinh tế, tài chính: Hiểu rõ đặc điểm động lực và các nhân tố ảnh hưởng đến người học để xây dựng và thay đổi phương pháp giảng dạy phù hợp.
  2. Nhà quản lý đào tạo và lãnh đạo khoa phòng: Sử dụng kết quả nghiên cứu để điều chỉnh chương trình đào tạo, tạo môi trường học tập và tổ chức hoạt động ngoại khóa nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh.
  3. Sinh viên học tiếng Anh là ngoại ngữ thứ hai: Nắm bắt được thực trạng động lực học tập, từ đó yêu cầu bản thân, tự chủ động cải thiện kỹ năng và vượt qua các trở ngại tâm lý.
  4. Nhà nghiên cứu và sinh viên cao học chuyên ngành ngôn ngữ học ứng dụng, giáo dục: Tham khảo làm cơ sở nghiên cứu mở rộng về động lực và các yếu tố gây mất động lực trong học ngoại ngữ tại Việt Nam cũng như mô phỏng nghiên cứu trong các bối cảnh tương tự.

Câu hỏi thường gặp

  1. Động lực học tiếng Anh được hiểu như thế nào trong nghiên cứu này?
    Động lực bao gồm hai loại chính: nội tại – thích thú, đam mê học tập vì niềm vui bản thân; ngoại tại – học tập để đạt kết quả, phục vụ công việc, ưu đãi xã hội. Sinh viên Khoa Tài chính - Ngân hàng chủ yếu học vì động lực ngoại tại, ví dụ như mục tiêu có việc làm sau tốt nghiệp.

  2. Yếu tố nào ảnh hưởng mạnh nhất đến động lực học của sinh viên?
    Đặc điểm môn học như ngữ âm phức tạp (75,8% sinh viên đề cập), lượng từ vựng lớn và khó nhớ (70,6%) gây ảnh hưởng tiêu cực lớn. Ngoài ra, môi trường lớp học và hành vi của giáo viên cũng là nhân tố quan trọng.

  3. Tỷ lệ sinh viên có động lực nội tại cao là bao nhiêu?
    Khoảng 46% sinh viên cho biết họ học tiếng Anh vì thích thú, thấy bài học thú vị và sẵn sàng tiếp tục học dù không bắt buộc.

  4. Vì sao nhiều sinh viên không sử dụng tiếng Anh bên ngoài lớp học?
    Nguyên nhân chính là sự thiếu tự tin, sợ sai và không có nhiều cơ hội thực hành giao tiếp tiếng Anh bên ngoài môi trường học tập, hạn chế trải nghiệm thực tế.

  5. Giải pháp chính dành cho giáo viên để tăng động lực học của sinh viên là gì?
    Giáo viên nên đa dạng hóa phương pháp giảng dạy bằng các hoạt động tương tác, trò chơi, tăng cường giao tiếp và chú ý thái độ, cách hành xử trong lớp để tạo môi trường học tập tích cực, an toàn, thân thiện.

Kết luận

  • Sinh viên Khoa Tài chính - Ngân hàng tại HUBT có động lực học tiếng Anh chủ yếu là ngoại tại, với mục tiêu chính là việc làm trong tương lai và giao tiếp với người nước ngoài.
  • Đặc điểm môn học như ngữ âm phức tạp, lượng từ lớn, kỹ năng nghe nói hạn chế cùng môi trường học kém hấp dẫn là các yếu tố gây mất động lực chính.
  • Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoặc làm giảm động lực qua thái độ, phương pháp giảng dạy và trình độ chuyên môn.
  • Nghiên cứu giúp nhận diện rõ các động lực và yếu tố mất động lực, tạo cơ sở cho đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả học tiếng Anh tại HUBT trong thời gian tới.
  • Khuyến nghị các bước tiếp theo gồm cải thiện chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao môi trường học tập và kỹ năng quản lý lớp học của giáo viên; đồng thời mở rộng nghiên cứu động lực tại các khoa khác và khảo sát thêm ảnh hưởng của động lực đến kết quả học tập.

Các giảng viên, nhà quản lý và nhà nghiên cứu được khuyến nghị vận dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn và tiếp tục phát triển nghiên cứu nhằm nâng cao toàn diện chất lượng dạy học tiếng Anh tại các trường đại học Việt Nam.