Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Văn học mang tên "Những đóng góp của Khái Hưng trong tiểu thuyết phong tục" do sinh viên Đoàn Thị Kiều Diễm thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Hồ Thị Xuân Quỳnh (Trường Đại học Cần Thơ), bảo vệ tại Khoa Khoa học Cơ bản, Trường Đại học Võ Trường Toản vào tháng 5 năm 2013.

Khái Hưng (Trần Khánh Dư, 1896–1947) là cây bút nòng cốt, tài hoa và có khối lượng trước tác dồi dào bậc nhất của Tự lực văn đoàn. Từ năm 1932, ông phụ trách mục tiểu thuyết của tuần báo Phong Hóa và viết nhiều nhất trong nhóm. Bên cạnh khuynh hướng lãng mạn, Khái Hưng có những đóng góp nổi bật ở mảng tiểu thuyết phong tục. Trong khi các tác giả cùng thời như Nguyễn Công Hoan, Mạnh Phú Tứ, Bùi Hiển hay Trần Tiêu phần nhiều tập trung vào phong tục ngoài làng xã hoặc đời sống nông dân nghèo khó, Khái Hưng lại hướng ngòi bút giải phẫu phong tục, nếp sống và tâm lý của các gia đình trung lưu, quyền quý và quan lại chốn thị thành. Khóa luận được thực hiện nhằm xác lập cái nhìn hệ thống, khách quan về giá trị nội dung và nghệ thuật của Khái Hưng trong mảng đề tài này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm 3 nội dung:

  1. Làm rõ những đóng góp về mặt nội dung trong bức tranh phong tục được tái hiện qua hệ thống tiểu thuyết phong tục của Khái Hưng giai đoạn 1930–1945.
  2. Xác định nét độc đáo riêng biệt của Khái Hưng khi đặt trong thế đối sánh với các nhà văn cùng thời viết về phong tục, qua đó khẳng định vị trí của ông đối với dòng văn học lãng mạn nói riêng và tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nói chung.
  3. Phân tích các đặc điểm thi pháp nghệ thuật (nghệ thuật xây dựng nhân vật, miêu tả tâm lý và nghệ thuật tả cảnh) mà nhà văn vận dụng để chuyển tải các vấn đề phong tục, lễ nghi, đạo đức và sinh hoạt xã hội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng khảo sát chính: Các tiểu thuyết thuộc mảng phong tục của Khái Hưng, trọng tâm khảo cứu đặt vào 3 tác phẩm tiêu biểu: Gia đình (1936), Thoát ly (1937) và Thừa tự (1938), kết hợp khảo sát liên hệ với một số tác phẩm lãng mạn, tâm lý khác cùng thời kỳ (Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Trống mái, Hạnh, Băn khoăn...).
  • Phạm vi không gian và thời gian: Đời sống xã hội, phong tục tập quán và sinh hoạt gia đình tại vùng Bắc Bộ trong giai đoạn lịch sử 1930–1945.
  • Tư liệu nghiên cứu tham khảo: Các công trình phê bình văn học của Vũ Ngọc Phan, Dương Quảng Hàm, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Vu Gia, Trương Chính, Bạch Năng Thi, Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung...

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống khái niệm công cụ và cơ sở lý luận về thể loại "tiểu thuyết phong tục" (romans de moeurs) dựa trên lịch sử nghiên cứu lý luận văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX:

  • Quan niệm của Phạm Quỳnh (Khảo về tiểu thuyết): Xếp tiểu thuyết phong tục vào nhóm tiểu thuyết tả thực, cốt tả chân xác tình trạng xã hội theo thói ăn nếp ở của người đời, bên trong luôn hàm chứa ý vị khuyên răn, bao biếm.
  • Quan niệm của Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại, 1942): Khẳng định tiểu thuyết phong tục có sức sống lâu bền và lưu truyền rộng rãi; phân định rõ nhánh phong tục thôn quê (tiêu biểu là Trần Tiêu) và phong tục thị thành, quan trường (tiêu biểu là Khái Hưng).
  • Quan niệm của Thanh Lãng và Nguyễn Văn Trung: Nhìn nhận tiểu thuyết phong tục như một bức tranh quang cảnh xã hội, nơi tác giả đứng ở vị trí quan sát khách quan để ghi nhận nề nếp sinh hoạt cộng đồng.
  • Định nghĩa của tác giả khóa luận: Tiểu thuyết phong tục là thể loại phản ánh những thói quen, tập tục đã ăn sâu vào đời sống xã hội được cộng đồng thừa nhận và tuân thủ; đòi hỏi nhà văn phải am hiểu sâu sắc phong tục dân tộc, phản ánh trung thực cách ứng xử của các tầng lớp nhân vật, qua đó phê phán các hủ tục lỗi thời và bảo tồn các giá trị văn hóa tốt đẹp.

Lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết phong tục của Khái Hưng được khóa luận tổng thuật qua 3 giai đoạn:

Giai đoạn Xu hướng tiếp cận Ý kiến và công trình tiêu biểu
1930–1945 Phê bình đồng đại, xếp loại thể loại và ghi nhận tính hiện thực. Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại, 1942) đánh giá cao Thừa tự, xem Khái Hưng là cây bút tả phong tục sâu sắc, kết hợp nhuần nhuyễn chất tả thực với chất văn tươi sáng.
1945–1975 Tiếp cận dưới góc độ chính trị, quan điểm giai cấp; tranh luận về tính chất cải lương hay hiện thực. Trương Chính coi Gia đình là nhát búa giáng vào chế độ đại gia đình; Bạch Năng Thi phân tích sự tha hóa của trí thức; Vu Gia phân tích các luồng nhận định trái chiều giữa miền Bắc và đô thị miền Nam.
1975–2013 Đổi mới tư duy lý luận, nhìn nhận khách quan giá trị hiện thực và nhân đạo. GS. Hà Minh Đức (1992) khẳng định bước phát triển mới ở Thừa tự, Gia đình; GS. Phan Cự Đệ (1992) phân tích tính chất bi kịch hiện thực trong Thoát ly.

Về bối cảnh văn học 1930–1945, khóa luận so sánh vị trí của Khái Hưng với các cây bút viết về phong tục cùng thời:

Tác giả Tác phẩm tiêu biểu Đặc điểm không gian và đề tài phong tục
Khái Hưng Gia đình, Thoát ly, Thừa tự Xung đột thế hệ, bi kịch đại gia đình phong kiến, giới thượng lưu và quan chức đô thị Bắc Bộ.
Mạnh Phú Tứ Làm lẽ, Nhạt tình Thảm kịch của người phụ nữ trong chế độ đa thê ở nông thôn và giới trung lưu.
Trần Tiêu Con trâu, Chồng con Nếp sống lam lũ, phong tục làng Cầm, tệ nạn chạy chọt ngôi thứ chốn đình trung của nông dân.
Bùi Hiển Nằm vạ Hủ tục "nằm vạ" mang tính tập quán địa phương của phụ nữ Trung Bộ.
Thiết Can Dã tràng Nạn ăn bám và cách thức quản lý nội bộ trong các đại gia đình.
Nguyễn Công Hoan Lá ngọc cành vàng, Cái thủ lợn Thói gia trưởng của quan lại, hủ tục khao vọng, tranh giành miếng ăn ở đình làng.

Phương pháp nghiên cứu được vận dụng gồm 5 phương pháp chính:

  1. Phương pháp hệ thống: Xem xét mảng sáng tác phong tục trong chỉnh thể sự nghiệp Khái Hưng và tiến trình văn học 1930–1945.
  2. Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ chi tiết văn bản để rút ra các quy luật tư tưởng và đặc trưng thể loại.
  3. Phương pháp so sánh: Đối chiếu sáng tác của Khái Hưng với các cây bút Tự lực văn đoàn và khuynh hướng hiện thực.
  4. Phương pháp chứng minh: Dẫn chứng cứ liệu nguyên văn từ tác phẩm để xác thực các luận điểm.
  5. Phương pháp tiểu sử: Kết hợp bối cảnh xuất thân, gia thế quan lại của tác giả để soi chiếu vào nội dung miêu tả tầng lớp thượng lưu.

Nguồn dữ liệu khảo sát trực tiếp: Văn bản 3 cuốn tiểu thuyết Gia đình, Thoát ly, Thừa tự do các nhà xuất bản phát hành và các bài viết lý luận, phê bình in trên báo Phong Hóa, Ngày Nay.


Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

Chương 1 giới thiệu khái quát tiểu sử, sự nghiệp, quan điểm sáng tác của Khái Hưng và lý thuyết về tiểu thuyết phong tục giai đoạn 1930–1945:

  • Tiểu sử và sự nghiệp: Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Dư, sinh năm 1896 tại làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Dương (nay thuộc Hải Phòng), xuất thân là con cụ Tuần phủ Trần Mỹ và là con rể cụ Tổng đốc Lê Văn Đính. Ông tốt nghiệp Tú tài Pháp tại trường Albert Sarraut, sau đó dạy học tại trường Tư thục Thăng Long, cùng Nhất Linh chủ trương báo Phong Hóa, Ngày Nay. Gia tài trước tác của ông gồm khoảng 25 tác phẩm lớn nhỏ, chia thành 3 mảng tiểu thuyết chính: tiểu thuyết lý tưởng (Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Trống mái), tiểu thuyết phong tục (Gia đình, Thoát ly, Thừa tự) và tiểu thuyết tâm lý (Hạnh, Băn khoăn), cùng các tập truyện ngắn (Dọc đường gió bụi, Tiếng suối reo, Đội mũ lệch) và kịch bản (Tục lụy, Đồng bệnh).
  • Quan điểm sáng tác: Nhờ xuất thân gia đình quan lại, Khái Hưng thấu hiểu tường tận nếp sinh hoạt của giới thượng lưu. Mặc dù chịu ảnh hưởng tư tưởng tư sản cấp tiến và căm ghét chế độ đại gia đình phong kiến, quan điểm của ông vẫn mang màu sắc cải lương khi lý tưởng hóa các chủ đồn điền nhân từ (như nhân vật Hạc trong Gia đình). Về nghệ thuật, ông chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây và hội họa lãng mạn, kết hợp quan niệm "nghệ thuật vị nghệ thuật" với lối quan sát tả thực chi tiết.
  • Giới thuyết thể loại: Tổng kết các định nghĩa về tiểu thuyết phong tục của các nhà nghiên cứu đầu thế kỷ XX và bối cảnh chuyển dịch xã hội Việt Nam từ phong kiến sang thực dân nửa phong kiến, tạo điều kiện cho đề tài phong tục phát triển.

CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐÓNG GÓP VỀ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG TRONG TIỂU THUYẾT PHONG TỤC CỦA KHÁI HƯNG

Chương 2 là phần trọng tâm, phân tích chi tiết các bình diện nội dung được phản ánh trong tác phẩm:

  • Thể hiện phong cảnh Bắc Bộ:
    • Cảnh phố thị: Miêu tả cụ thể nội thất gian gác phố Cửa Đông, cảnh buôn bán tại các dãy quán giải khát, quang cảnh trước cổng trường học nơi Nga dạy học với dãy xe kéo, phu xe co ro hút thuốc lá, hay khung cảnh nhộn nhịp, tai nạn xe hơi trên đường Tràng Tiền trong Thoát ly.
    • Cảnh nông thôn: Bức tranh đồng lúa chín vàng mùa thu khi An vác súng đi săn, cảnh hoàng hôn trên sông Tranh, ánh trăng hạ tuần in bóng cây bàng bên thềm công đường huyện lỵ, hay âm thanh tiếng khung cửi, tiếng chim chích chòe bên rặng xoan của ấp nông thôn Hạc – Bảo (Gia đình).
  • Đời sống tinh thần và phong tục sinh hoạt:
    • Sinh hoạt thường nhật: Thói quen đánh tổ tôm thâu đêm của giới quan lại và tư chức (ông bà phán Trinh, y sĩ Canh, tri huyện Viết); quy tắc xưng hô giai tầng khắt khe (phân biệt "cô", "mợ", "ông Tú bà Tú", "bà lớn" giữa các vùng miền Bắc – Nam qua trường hợp bà Thông).
    • Phong tục ngày lễ và tang ma: Ý nghĩa sum họp ngày Tết Nguyên Đán bị biến chất thành nơi phô trương, bằng mặt không bằng lòng (Gia đình, Thoát ly); các hủ tục tang lễ phức tạp, rườm rà (lễ tam sinh, rước lợn quay gà luộc, mời thầy bùa, dựng nhà táng, thuyền bát nhã, thuê người đeo mặt nạ múa trò hề, mặc mũ rơm áo sô chống gậy the trong đám tang cha An).
  • Hệ thống các mối quan hệ xã hội và gia đình:
    • Quan hệ gia đình: Mối quan hệ mẹ con và mẹ ghẻ – con chồng (bà Án Báo nuôi dưỡng lòng ghen tị giữa hai con gái; bà phán Trinh hành hạ Hồng đến chết); quan hệ anh chị em (tình anh em Lương – Thiện trong Thoát ly, sự hòa giải giữa Trình và Khoa trong Thừa tự, đối lập với sự đố kỵ danh vị giữa Phụng và Nga); quan hệ vợ chồng (hôn nhân ép đặt, nạn đa thê, sự đổ vỡ hạnh phúc của An – Nga khi chạy theo danh vọng quan trường đối lập với hạnh phúc giản dị của Hạc – Bảo).
    • Quan hệ xã hội: Bản chất luồn cúi, đút lót và ức hiếp dân nghèo nơi quan trường (tri huyện Viết); hành vi cho vay nặng lãi bóc lột cùng cực của chủ nợ (bà Ba trong Thừa tự); thói ngồi lê đôi mách, tò mò săm soi đời tư ở tỉnh lỵ Ninh Giang.
  • Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo:
    • Giá trị hiện thực: Khắc họa chân thực sự suy tàn của chế độ đại gia đình; phơi bày bản chất nhơ nhớp của quan trường thời Pháp thuộc ("biết làm quan nghĩa là phải biết ăn tiền"); chỉ rõ con đường tha hóa nhân cách của người trí thức (nhân vật An).
    • Giá trị nhân đạo: Bênh vực quyền sống, quyền tự do cá nhân; xót thương cho thân phận bi kịch của người phụ nữ (Hồng, Nga); cổ vũ tinh thần vượt thoát khỏi xiềng xích lễ giáo phong kiến lỗi thời.

CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐÓNG GÓP VỀ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT PHONG TỤC CỦA KHÁI HƯNG

Chương 3 tổng kết các thủ pháp thi pháp nghệ thuật đặc sắc của tác giả:

  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Khắc họa nhân vật đa dạng thuộc nhiều thành phần xã hội (quan lại, trí thức tân học, phụ nữ quyền quý, địa chủ, người làm thuê), đặt nhân vật vào các tình huống xung đột gia đình gay gắt để bộc lộ tính cách.
  • Miêu tả tâm lý và tính cách: Khả năng phân tích tâm lý phụ nữ tinh tế, chân thực (tính ngây thơ của Bảo, sự so bì đố kỵ của Nga, sự hợm hĩnh lấn lướt của Phụng); miêu tả diễn biến tha hóa nội tâm phức tạp, giằng xé của tầng lớp trí thức tiểu tư sản.
  • Nghệ thuật tả cảnh: Sử dụng bút pháp tả thực kết hợp cảm quan lãng mạn, miêu tả cảnh vật thiên nhiên và không gian sinh hoạt gắn liền với tâm trạng nhân vật, tạo nên bầu không khí đặc trưng của văn hóa Bắc Bộ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận rút ra các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên việc khảo sát văn bản tác phẩm:

Phương diện khảo sát Dữ liệu và phát hiện cốt lõi trong khóa luận
Bức tranh phong tục Bắc Bộ Tái hiện chân xác không gian kép: đô thị Hà Nội – Ninh Giang và nông thôn Bắc Bộ; ghi lại các phong tục, tập quán cụ thể (chơi tổ tôm, xưng hô tôn ti, nghi lễ Tết Nguyên Đán, hủ tục tang ma cổ truyền).
Phê phán đại gia đình phong kiến Vạch trần sự rạn nứt đạo đức gia đình vì danh lợi; chỉ rõ sự tàn độc của chế độ đa thê (Thoát ly) và mâu thuẫn tranh đoạt tài sản (Thừa tự).
Phơi bày bộ máy quan trường Khẳng định cơ chế bóc lột, tham nhũng thời Pháp thuộc; ghi nhận bi kịch tha hóa của trí thức tân học qua nhân vật An (Gia đình).
Đổi mới thi pháp tiểu thuyết Kết hợp bút pháp hiện thực tả chân với chất văn trong sáng, thanh thoát; thành công trong giải phẫu tâm lý nhân vật nữ và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.

Về mặt đóng góp khoa học, tác giả khóa luận đã:

  1. Đặt tiểu thuyết phong tục của Khái Hưng vào đúng tọa độ văn học sử giai đoạn 1930–1945, làm rõ bước chuyển biến bút pháp quan trọng của tác giả từ lãng mạn thuần túy sang khuynh hướng hiện thực tả chân.
  2. Chứng minh nét khác biệt độc đáo của Khái Hưng so với các nhà văn cùng thời: tập trung khai thác phong tục trong không gian gia đình quyền quý, thị thành thay vì chỉ khai thác không gian làng quê hay tầng lớp bần nông.
  3. Cung cấp hệ thống luận điểm và dẫn chứng văn bản toàn diện, làm sáng tỏ giá trị tư tưởng nhân văn và hiện thực sâu sắc của Khái Hưng bên ngoài phạm vi các tiểu thuyết lãng mạn quen thuộc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do phạm vi và giới hạn của khóa luận tốt nghiệp bậc đại học, tác giả chỉ tập trung khảo sát sâu trên 3 cuốn tiểu thuyết nòng cốt (Gia đình, Thoát ly, Thừa tự) mà chưa thể bao quát toàn bộ 25 tác phẩm trong toàn bộ di sản trước tác của Khái Hưng; phần đối sánh với các cây bút cùng nhóm Tự lực văn đoàn chủ yếu dừng lại ở mức độ nêu dẫn chứng diện mạo chứ chưa đi sâu vào thi pháp so sánh liên văn bản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đối tượng khảo sát sang mảng truyện ngắn phong tục và các tiểu thuyết tâm lý viết về phong tục sau năm 1940 (Hạnh, Băn khoăn); thực hiện nghiên cứu so sánh chuyên sâu về thi pháp tiểu thuyết phong tục giữa Khái Hưng với các cây bút hiện thực xuất sắc cùng thời như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng và Nam Cao.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực phục vụ công tác học tập và nghiên cứu:

  • Đối tượng sử dụng: Giảng viên, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học, Văn hóa học và Lịch sử văn học Việt Nam.
  • Phần nội dung giá trị nhất:
    • Mục 1.2 và 1.3 (Chương 1): Khung lý thuyết và bức tranh tổng quan về thể loại tiểu thuyết phong tục giai đoạn 1930–1945, hữu ích cho việc xây dựng cơ sở lý luận cho các đề tài nghiên cứu về văn xuôi tiền chiến.
    • Mục 2.2 và 2.3 (Chương 2): Nguồn tư liệu trích dẫn phong phú, phân tích chi tiết về phong tục tập quán, nghi lễ ma chay, cưới hỏi, thói quen sinh hoạt và các mối quan hệ gia đình Bắc Bộ được ghi lại trong văn học.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái Hưng lựa chọn không gian và đối tượng phong tục nào khác biệt so với các nhà văn cùng thời?

Trong khi các nhà văn cùng thời như Trần Tiêu (Con trâu, Chồng con) hay Bùi Hiển (Nằm vạ) tập trung vào đời sống bần nông, hủ tục chốn đình trung làng quê, Khái Hưng lại tập trung ngòi bút vào đời sống nội bộ của các đại gia đình quyền quý, tầng lớp quan lại, trí thức và thị dân trung lưu Bắc Bộ, khai thác sự va chạm giữa nề nếp gia phong truyền thống và lối sống mới.

2. Lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết phong tục của Khái Hưng được khóa luận phân chia như thế nào?

Khóa luận chia lịch sử nghiên cứu thành 3 giai đoạn rõ rệt:

  • Giai đoạn 1930–1945 (tiêu biểu là phê bình của Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại);
  • Giai đoạn 1945–1975 (các nhận định của Trương Chính, Bạch Năng Thi, Vu Gia dưới góc nhìn chính trị - xã hội);
  • Giai đoạn 1975 đến năm 2013 (đánh giá lại khách quan sau Đổi mới 1986, tiêu biểu là các bài viết của GS. Hà Minh Đức và GS. Phan Cự Đệ năm 1992).

3. Những hủ tục tang ma nào được tác giả khóa luận phân tích qua tác phẩm Gia đình?

Khóa luận phân tích chi tiết các hủ tục rườm rà trong đám tang cha An như: tục cúng lễ tam sinh, mời thầy bùa thầy bèn, dựng nhà táng, minh tinh, thuyền bát nhã, tục rước lợn quay gà luộc ngoài đường, thuê người đeo mặt nạ đi trước múa hát pha trò hề, cùng quy định con cháu phải mặc mũ rơm, áo sô, khoác áo sợi gai và chống gậy the.

4. Nhân vật An trong tiểu thuyết Gia đình đại diện cho hiện tượng xã hội nào?

Nhân vật An đại diện cho bi kịch tha hóa của tầng lớp thanh niên trí thức Tây học giàu lý tưởng nhưng nhu nhược. Trước áp lực của gia đình phong kiến và tham vọng danh lợi của vợ, An đã từ bỏ ước mơ làm nông nghiệp lương thiện để dấn thân vào chốn quan trường, chấp nhận thực hành các thủ đoạn nhơ nhớp, ăn hối lộ để tồn tại.

5. Vì sao tác giả khóa luận nhận định ngòi bút phong tục của Khái Hưng mang tính chất cải lương?

Khái Hưng kịch liệt lên án sự mục ruỗng của đại gia đình và thói hư tật xấu của quan trường, nhưng do xuất thân giai cấp thượng lưu, ông không chủ trương lật đổ trật tự xã hội mà kỳ vọng vào sự cải cách thông qua việc xây dựng hình mẫu những điền chủ nhân từ, có đầu óc tiến bộ và nếp sống văn minh (như mô hình trang trại của Hạc và Bảo).


Kết luận

Khóa luận "Những đóng góp của Khái Hưng trong tiểu thuyết phong tục" của Đoàn Thị Kiều Diễm là một công trình nghiên cứu văn học sử nghiêm túc, có cấu trúc chặt chẽ và nguồn dẫn chứng văn bản phong phú. Tác phẩm đã phân tích sâu sắc bức tranh sinh hoạt, phong tục tập quán và các mối quan hệ xã hội phức tạp của vùng Bắc Bộ giai đoạn 1930–1945 qua 3 tiểu thuyết nòng cốt Gia đình, Thoát ly và Thừa tự. Công trình khẳng định thành tựu hiện thực xuất sắc và vị trí quan trọng của Khái Hưng trong tiến trình hiện đại hóa thể loại tiểu thuyết phong tục Việt Nam đầu thế kỷ XX.