CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG CƠ LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.1 Khái niệm về động cơ làm việc của người lao động Doanh nghiệp muốn hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả cần phải nâng cao hiệu quả làm việc của người lao động, đây là vấn đề mà các nhà quản lý và quản trị luôn quan tâm và mong muốn. Muốn người lao động làm việc có hiệu quả cao thì đòi hỏi nhà quản trị các cấp phải hiểu biết về con người và tạo động cơ cho người lao động làm việc trong doanh nghiệp. Từ rất sớm, phương đông đã nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của con người với quan điểm "con người là linh hồn của vạn vật, không có con người sẽ không thành sự việc, không có người hiền tài sẽ không thành đại sự". Có được người lao động giỏi (nắm được tri thức kỹ thuật, biết lao động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh) đã là một vấn đề khó khăn đối với doanh nghiệp.
Nhưng quan trọng hơn là làm sao để người lao động làm việc hết mình (tận tâm, tận lực) với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp là một vấn đề rất khó, muốn người lao động làm việc hăng say hết mình đòi hỏi các nhà quản trị phải khơi dậy năng lực tiềm năng và tinh thần sáng tạo trong mỗi con người, chỉ có lao động sáng tạo của con người mới tạo ra giá trị lớn. Đây chính là vấn đề đã được T.Woolf C Roth đúc kết: "Trong kinh doanh, vốn liếng không phải là quan trọng nhất, kinh nghiệm cũng không phải nốt. Hai thứ đó người ta đều có thể có được không sớm thì muộn, cái quan trọng là những ý tưởng sáng tạo". Phương đông với văn minh đặc trưng đã phát hiện ra vai trò to lớn của con người trong tổ chức, nhưng không đưa ra được hệ thống các quan điểm tạo động lực cho người lao động.
Phương Tây, nơi các quốc gia phát triển bộ môn về khoa học quản lý con người đã được hình thành và phát triển rất sớm. Một trong những vấn đề quan trọng được các nhà khoa học phương tây dày công nghiên cứu đó chính là vấn đề tạo động lực cho người lao động. Trước khi nghiên cứu động cơ (Motivation) làm việc, chúng ta tìm hiểu một số khái niệm về động cơ. Học viên: Bùi Xuân Cường 8 Luận văn cao học: Quản trị Kinh doanh Động cơ được hiểu chung nhất với nghĩa là tất cả những gì kích thích, thúc đẩy con người và xã hội vận động, phát triển theo hướng tiến bộ.
Động lực bao giờ cũng nằm trong quan hệ mâu thuẫn biện chứng và là sản phẩm của chính sự vận động ấy. Khái niệm động cơ ban đầu gắn liền với hệ thống máy móc, trong hệ thống máy có hệ thống máy động lực, máy truyền lực và máy công tác. Máy động lực có đặc điểm là cái khởi nguồn của mọi sự hoạt động tức là tạo ra sự tác động thúc đẩy từ ban đầu và có khả năng duy trì hoạt động lâu dài. Có quan điểm cho rằng động lực là cái thúc đẩy sự vận động, phát triển, điều đó đúng nhưng chưa đủ vì động lực phải có khả năng duy trì sự vận động sau khi đã truyền sự vận động cho sự vật khác, đồng thời sự tác động không phải một chiều mà là tác động qua lại mang tính nhân quả.
Theo quan điểm khoa học Mácxít động cơ là sự phản ánh tâm lý về đối tượng có khả năng thỏa mãn nhu cầu của chủ thể. Nhu cầu bao giờ cũng nhằm vào một đối tượng nhất định. Nó hối thúc con người hành động nhằm đáp ứng thỏa mãn và chỉ khi gặp được đối tượng có khả năng thỏa mãn thì nó mới có thể trở thành động cơ thúc đẩy, định hướng hoạt động của chủ thể, thôi thúc con người hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu. Chỉ có xã hội loài người mới có hoạt động kinh tế, các quy luật hoạt động của con người, của kinh tế đều thông qua hoạt động thực tiễn của con người nhằm đáp ứng nhu cầu của chính mình.
Nhu cầu của con người tự nó chỉ là động lực tiềm tàng, còn động lực thực tế là hành động tìm phương thức thỏa mãn nhu cầu. Chính vì vậy có thể nói hoạt động của con người có sự tác động qua lại giữa nhu cầu và hoạt động thỏa mãn nhu cầu là động lực. Các Mác cho rằng, con người trước khi làm ra lịch sử phải sống đã, tức là phải ăn uống, sinh hoạt, muốn vậy phải lao động sản xuất để thỏa mãn nhu cầu sinh tồn. Theo Hêghen con người là một thực thể nhu cầu (một hệ thống nhu cầu), nhu cầu là thuộc tính vốn có, là cơ cấu và chức năng tồn tại của con người.
Học viên: Bùi Xuân Cường 9 Luận văn cao học: Quản trị Kinh doanh Trong thực tiễn có quan điểm cho rằng, văn hóa, khoa học, công nghệ … là động lực; lại có ý kiến cho rằng con người, hoạt động của con người là động lực; lại có ý kiến khác cho rằng, nhu cầu lợi ích mới là động lực chứ không phải là hoạt động của con người hay con người là động lực…, nhưng xét cho đến cùng các nhu cầu về lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần là động lực sâu xa. Xét cho đến cùng, nhu cầu luôn gắn liền với con người. Các Mác nói rằng, không có nhu cầu không có sản xuất; hoạt động sản xuất để thỏa mãn nhu cầu là hành vi lịch sử đầu tiên và thông qua hoạt động của con người, nhu cầu trở thành nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển của xã hội. Nhu cầu xuất phát từ đặc điểm và trạng thái cấu tạo của cơ thể động vật (trong đó có cả con người) đòi hỏi đáp ứng để tồn tại.
Ở con người nhu cầu sinh tồn và phát triển cũng xuất phát từ đặc điểm cấu tạo của cơ thể. Không có nhu cầu không có sản xuất, nhưng chính sản xuất mở rộng đã nâng cao nhu cầu, sản xuất không ngừng sinh ra nhu cầu. Nhu cầu là động lực của sự phát triển về thực chất là cái thúc đẩy, cuốn hút và quyết định hoạt động, định hướng hoạt động của con người. “Nhu cầu của con người được hiểu là những gì cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người” Động cơ – áp lực trong mỗi cá nhân ảnh hưởng đến mức độ, định hướng và sự bền bỉ trong nỗ lực dành cho công việc.
Có rất nhiều quan niệm về động cơ làm việc, có quan niệm cho rằng “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức” Cũng có quan niệm khác lại cho rằng: “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động” ( Bài giảng: Kỹ năng lãnh đạo và quản lý – PGS.TS Trần Văn Bình ) Theo từ điển tiếng Anh Longman, động lực làm việc được định nghĩa là "Một động lực có ý thức hay vô thức khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt được một mục tiêu mong đợi" Học viên: Bùi Xuân Cường 10 Luận văn cao học: Quản trị Kinh doanh Động cơ là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống. Động cơ có tác dụng chi phối thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động. Các cá nhân khác nhau có các động cơ khác nhau, và trong các tình huống khác nhau động cơ nói chung là khác nhau.
Mức độ thúc đẩy của động cơ cũng sẽ khác nhau giữa các cá nhân cũng như trong mỗi cá nhân ở các tình huống khác nhau. Tổng kết từ thực tế cho thấy, động cơ làm việc là sự thôi thúc người có khả năng lao động đi đến quyết định cho công việc cụ thể và mức độ tích cực sáng tạo nhằm có được những thứ thỏa mãn một hoặc một số nhu cầu. Trong đời sống hàng ngày động cơ hoạt động đồng nghĩa với thực sự ham muốn tham gia hoạt động; chí hướng; quyết tâm; trong trường hợp ở doanh nghiệp, cơ quan đồng nghĩa với động cơ làm việc. Đặc điểm của động cơ làm việc Động cơ làm việc luôn gắn liền với mỗi con người, mỗi công việc, mỗi tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể.
Điều đó đồng nghĩa với việc nhà quản trị sẽ không thể xây dựng được một chương trình tạo động cơ làm việc cho nhân viên của doanh nghiệp mình nếu như chưa hiểu rõ công việc của họ, môi trường làm việc của họ, mối quan hệ giữa họ với tổ chức. Động cơ làm việc là những kích thích xuất phát từ phía bên trong bản thân người lao động, nhưng động cơ làm việc không phải là một đặc điểm tính cách cá nhân nghĩa là không có người nào sinh ra đã có sẵn động cơ làm việc. Vì thế, chúng ta không thể trông chờ vào việc người lao động sẽ tự tạo động cơ cho bản thân họ, đã là nhà quản trị thì phải chủ động xây dựng phương pháp tạo động cơ và chương trình hành động cụ thể thì mới mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp mình. Động cơ làm việc luôn mang tính tự nguyện, điều này được thể hiện thông qua sự say mê làm việc hết mình, làm việc một cách có chủ đích, khoa học, hoàn toàn tự nguyện và không hề bị chi phối bởi sức ép nào khác.
Là nhà quản trị chúng ta cần nhận thức rõ sự khác biệt giữa hành vi lao động hết mình của người lao động do chịu một sức ép nào đó từ tổ chức hay do sự tự nguyện của bản thân họ để có biện pháp ứng xử cho phù hợp. Động cơ làm việc là nguồn gốc dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân và từ đó dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được nâng cao trong điều kiện Học viên: Bùi Xuân Cường 11 Luận văn cao học: Quản trị Kinh doanh các nhân tố khác không thay đổi. Tuy nhiên cũng cần hiểu rằng không phải cứ có động cơ làm việc là dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân vì điều đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trí tuệ, trình độ, tay nghề của người lao động, các phương tiện, công cụ lao động và nguồn lực để thực hiện công việc.