Chương 1. Giới thiệu đề tài. Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan về sự phát triển của đề tài kể cả trong và ngoài nước theo thời gian, đồng thời làm rõ mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của đề tài; trình bày tổng quát về đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu lên ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
Cơ sở lý luận về việc sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh. Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan lý thuyết bao gồm khái niệm và cơ cấu vốn của các doanh nghiệp; lý thuyết đòn bẩy tài chính, bao gồm nhiều cách tính và ý nghĩa của mỗi công thức ở góc độ tài chính. Thực trạng sử dụng đòn bẩy tài chính của DNSX và cụ thể từng nhóm ngành. Đối với chương này, tác giả trình bày thực trạng sử dụng đòn bẩy tài chính của tổng quan ngành sản xuất thông qua các DNSX.
Tiếp theo, bằng sự kết hợp giữa bảng biểu, thống kê mô tả và cập nhật tình hình kinh tế riêng của các ngành, tác giả đưa ra phân tích riêng cho từng ngành về việc sử dụng đòn bẩy tài chính trước và trong đại dịch. Kết luận và khuyến nghị. Từ thực trạng được trình bày ở chương 3, trong Chương 4 tác giả kết luận hai ý chính: thực trạng chung của các DNSX trong sử dụng đòn bẩy tài chính và riêng từng nhóm ngành là như thế nào. Từ đó, tác giả đưa ra khuyến nghị về việc sử dụng đòn bẩy tài chính chung đối với chủ doanh Luan van 11 nghiệp, ngân hàng và nhà nước nhằm có hướng đi đúng đắn cho phát triển DNSX.
Luan van 12 CHƯƠNG 2. Tổng quan lý thuyết về các doanh nghiệp SX-KD 2. Khái niệm doanh nghiệp SX-KD Sản xuất kinh doanh là hoạt động sản xuất, chế tạo của cải, vật chất, sản phẩm để phục vụ cho quá trình trao đổi mua bán trên thị trường. Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là những doanh nghiệp sử dụng nguồn lực, tư liệu sản xuất kết hợp với ứng dụng khoa học công nghệ để sản xuất ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho khách hàng.
Doanh nghiệp sản xuất nắm giữ vai trò quan trọng trong đời sống con người nói riêng và nền kinh tế nói chung. Về khía cạnh con người, nó thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu như ăn mặc, tiêu dùng và y tế; cung cấp nhiều cơ hội việc làm cho người lao động giảm tỷ lệ thất nghiệp đáng kể. Về khía cạnh nền kinh tế, doanh nghiệp sản xuất là yếu tố không thể thiếu cho bất kỳ nền kinh tế nào, dù là nước phát triển hay đang phát triển vì nó là nhân tố thiết yếu duy trì sự sống còn và phát triển của con người trên phương diện chất lượng cuộc sống. Đặc điểm chung của các DNSX Theo Đoàn Thục Quyên (2015), các DNSX có những đặc điểm sau: Thứ nhất, doanh nghiệp sản xuất đầu tư nhiều vào tài sản cố định hơn các doanh nghiệp chuyên về lĩnh vực khác.
DNSX phải chi trả cho việc xây dựng các nhà xưởng, máy móc, thiết bị cho quá trình sản xuất dẫn đến tài sản cố định của doanh nghiệp cao. Việc đầu tư vốn vào những tài sản cố định như thế sẽ tạo ra năng lực sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Do đó, khi doanh nghiệp phân bổ càng nhiều vốn vào tài sản cố định, năng lực sản xuất của họ sẽ tăng lên, cũng từ đó mà tỷ trọng vốn cố định lớn hơn vốn lưu động. Thứ hai, DNSX có chu kỳ kinh doanh dài và thời gian thu hồi vốn lâu.
Chu kỳ kinh doanh của DNSX bắt đầu từ việc mua nguyên vật liệu, trải qua quá trình sản xuất, kiểm tra chất lượng hàng hóa rồi mới lưu thông hàng hóa và đưa ra thị trường phân phối cho khách hàng. Vì thế một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp là khá dài và thời gian thu hồi vốn từ khách hàng trở nên chậm hơn, song do các DNSX Luan van 13 thường sản xuất các hàng hóa thiết yếu phục vụ cho đời sống con người nên chu kỳ kinh doanh diễn ra liên tục với tần suất cao. Thứ ba, sự phát triển của DNSX gắn liền với sự phát triển của khoa học công nghệ. Trong sản xuất, chất lượng sản phẩm sẽ bị chi phối ít nhiều bởi tư liệu lao động và đối tượng lao động.
Tuy nhiên, tư liệu là động là yếu tố có ảnh hưởng đáng kể hơn, ở đây tư liệu lao động được hiểu là máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đóng vai trò cốt yếu trong quá trình sản xuất hàng hóa. Trong cạnh tranh giữa các DNSX, nếu doanh nghiệp nào cập nhật tư liệu lao động (máy móc, dây chuyền sản xuất khoa học công nghệ) tối tân hơn, hiện đại hơn sẽ có lợi thế cạnh tranh về chất lượng và thời gian sản xuất hàng hóa nhanh chóng hơn các doanh nghiệp khác, từ đó tạo ra được nhiều sản phẩm hơn, thu lại vốn nhanh hơn cho mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh. Thứ tư, DNSX khó thay đổi quy mô và mặt hàng kinh doanh nhanh chóng. DNSX phải cẩn trọng trong việc lựa chọn sản phẩm sản xuất, vì họ cần phải đầu tư vào mua sắm máy móc, thiết bị, thuê nhân công trong quá trình vận hành máy móc và sản xuất hàng hóa.
Do đó, yếu tố đầu vào phải phù hợp với mục đích kinh doanh và sản phẩm kinh doanh ban đầu của họ, nếu đổi sang sản phẩm khác họ phải cân nhắc sản phẩm đó có phù hợp với yếu tố đầu vào mà họ đã lựa chọn hay không và chi phí cần bỏ ra là bao nhiêu. Tổng quan lý thuyết về đòn bẩy tài chính và các chỉ số liên quan 2. Khái niệm đòn bẩy tài chính Trong hai giáo trình tài chính trong và ngoài nước, đòn bẩy tài chính được định nghĩa như sau: Theo Nguyễn Đình Kiệm (2008): “Đòn bẩy tài chính là thể hiện của việc sử dụng vốn vay trong nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm hy vọng gia tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập trên mỗi cổ phần của doanh nghiệp”. Theo Berk và Dermazo (2016): Đòn bẩy tài chính thể hiện mức độ phụ thuộc vào nợ vay của doanh nghiệp, là chỉ số tài chính quan trọng trong quá trình phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Luan van 14 Tuy có nhiều khái niệm về đòn bẩy tài chính nhưng nhìn chung, khái niệm đầy đủ nhất trong kinh tế học về đòn bẩy tài chính là như sau: “Đòn bẩy tài chính thể hiện mức độ doanh nghiệp sử dụng khoản vốn đi vay để làm tăng thêm tỷ suất lợi nhuận doanh nghiệp (hoặc vốn chủ sở hữu, hoặc thu nhập trên mỗi cổ phần)”. Các khái niệm cơ bản trong tài chính có liên quan đến nhóm chỉ số đòn bẩy tài chính ● Tổng tài sản: gồm có tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Theo Kaplan Schweser (2022): Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền sử dụng trong 1 năm hoặc một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản dài hạn là những tài sản của đơn vị có thời gian sử dụng, luân chuyển hoặc thu hồi dài (hơn 12 tháng hoặc trong nhiều chu kỳ kinh doanh).
Giá trị tổng tài sản của một doanh nghiệp thể hiện được quy mô của doanh nghiệp đó. Yếu tố tổng tài sản đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh vì trách nhiệm trả nợ của họ bao gồm cả phần tài sản của mình. Trong khi đó, Công ty TNHH có 2 thành viên trở lên và Công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm trả nợ trong phần vốn góp. Do đó, doanh nghiệp có tổng tài sản cao sẽ có lợi thế hơn về quy mô và khả năng trả nợ (còn tuỳ thuộc vào mức nợ vay).
● Vốn chủ sở hữu: Theo Kaplan Schweser (2022), VCSH là phần dư còn lại sau khi lấy tài sản trừ đi nợ phải trả. VCSH bao gồm phần vốn góp, cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu quỹ, lợi nhuận giữ lại, lợi ích cổ đông không kiểm soát và các thu nhập khác. Theo Saga (A business community): “Vốn chủ sở hữu là tổng số vốn do chủ doanh nghiệp và các cổ đông trong công ty cổ phần hoặc các thành viên trong công ty liên doanh bỏ ra cho các hoạt động của công ty”. Trong đó, tổng tài sản và VCSH có sự liên kết với nhau thông qua công thức: VCSH = Tài sản - Nợ phải trả Từ công thức trên, ta thấy với mỗi doanh nghiệp, nợ phải trả và VCSH không thể vượt qua giá trị tổng tài sản của doanh nghiệp (trừ khi vỡ nợ).
Về mối quan hệ giữa VCSH và nợ phải trả của doanh nghiệp, hiện nay chưa có quy định nào về mức tỷ lệ VCSH của doanh nghiệp phải chiếm ít nhất bao nhiêu % tổng tài sản hoặc tỷ lệ Luan van 15 nợ phải trả phải chiếm tối thiểu bao nhiêu % của VCSH. Do đó, việc sử dụng nợ vay và mức hiệu quả sử dụng nợ vay là tuỳ vào mỗi doanh nghiệp có cơ cấu vốn như thế nào. ● Nợ phải trả dài hạn: Theo Corporate Finance Institute, nợ dài hạn là các nghĩa vụ tài chính trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp mà dự kiến sẽ không được thanh toán trong vòng 1 năm, có thời hạn thanh toán còn lại từ 12 tháng trở lên hoặc trên một chu kỳ sản xuất của doanh nghiệp. Các khoản nợ này thường có giá trị lớn, có thể là nợ vay dài hạn có hoặc không có tài sản đảm bảo của doanh nghiệp, phải trả trái phiếu và thuê vốn.
Tuy nhiên, có một số DNSX không tồn tại khoản nợ dài hạn này do tuỳ vào cơ cấu vốn của từng doanh nghiệp. ● Nợ phải trả: Nợ phải trả của doanh nghiệp bao gồm nợ ngắn hạn và dài hạn. Nợ dài hạn được trình bày như trên. Theo Kaplan Schweser (2022), nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là khoản nợ mà doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán trong vòng một năm trở lại hoặc trong một chu kỳ sản xuất.
Nợ ngắn hạn chủ yếu là các khoản phải trả người bán, các khoản dồn tích, doanh thu chưa thực hiện và nợ dài hạn đến hạn trả. Tất cả các DNSX đều tồn tại khoản nợ ngắn hạn. Các cách tính nhóm chỉ số đòn bẩy tài chính và ý nghĩa của nó Tương tự như các nhóm chỉ số khác trong tài chính (chỉ số thanh toán, thanh khoản, lợi nhuận và hiệu quả hoạt động), nhóm chỉ số đòn bẩy tài chính cũng được đo lường dưới nhiều công thức và phép tính vì có liên quan đến hệ số nợ vay.