Chương 1 HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN TƯ PHÁP TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHAT TRIEN CUA CÁC CƠ QUAN TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM. Hệ thống các cơ quan tư pháp trong bộ máy nhà nước. Khái niệm hệ thống các cơ quan tư pháp. Khái niệm hệ thống các cơ quan tư pháp (còn gọi là hệ thống tư pháp) là một vấn dé khoa học đang được các nhà chính trị, các nhà quan lý, luật học nghiên cứu, làm rõ, nhưng đến nay vẫn chưa có quan niệm thống nhất và còn có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm này.
Quan điểm thứ nhất cho rằng cơ quan tư pháp là cơ quan tài phán và chỉ có cơ quan tài phán mà thôi. Quan điểm thứ hai cho rằng các cơ quan tư pháp là cơ quan tài phán và cơ quan duy trì quyền công tố (Viện kiểm sát) và quan điểm thứ ba lại cho rằng các cơ quan tư pháp ở nước ta là những cơ quan bảo vệ pháp luật bao gồm: Toà án nhân dân (TAND), Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), các cơ quan điều tra và các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp như: luật sư, giám định tư pháp, công chứng. Để có cơ sở lý luận và thực tiễn xác định hệ thống các cơ quan tư pháp đúng với bản chất và chức năng của nó, trước hết chúng ta tìm hiểu khái niệm “Tư pháp” là gì? Trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn, thuật ngữ “Tư pháp” ở nước ta được hiểu và dùng theo nhiều nghĩa khác nhau tuỳ theo điểm xuất phát của cách tiếp cận và phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người sử dụng khái niệm đó. Theo Tiến sĩ luật học Đặng Quang Phương thì thuật ngữ “Tư pháp” được dùng để chỉ hoạt động tài phán và được hiểu theo nghĩa rộng của nó là bao gồm cả việc xét xử và hoạt động công tố.
Căn cứ vào Điều 63 Hiến pháp năm 1946 và Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 về tổ chức các Toà án và ngạch Thẩm phán, tác giả cho rằng: “Cơ quan tư pháp là cơ quan tài phán (Toà án nhân dân) và cơ quan duy trì quyền công tổ” [54, tr. Theo Từ điển pháp luật Anh - Việt do Tiến sĩ Vũ Trọng Hùng chủ biên, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh phát hành tháng 8/2000 thì “Tư pháp” được giải 11 thích là su công bằng, công lý, thẩm phán. Theo cách hiểu nay, “Tu pháp” không chi hiểu là một ý tưởng về một nền công lý, sự công bằng, mà còn bao hàm cả các cơ quan, thiết chế tương ứng (thẩm phán) nhằm duy trì, bảo vệ những ý tưởng và mục đích cao cả của xã hội, giải quyết mọi tranh chấp xảy ra trong xã hội phải đúng pháp luật, phù hợp với lẽ công bằng. Theo từ điển Hán - Việt do Đào Duy Anh chủ biên, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 1996 thì "Tư pháp" tức là pháp đình, y theo pháp luật mà xét định các việc trong phạm vi pháp luật.
Nói đến pháp đình thường người ta nghĩ đến Toà án, nơi thực hiện chức năng xét xử các hành vi vi phạm pháp luật của nhà nước. Như vậy, theo Dao Duy Anh thì "Tu pháp” bao hàm ca hệ thống tư pháp và hoạt động xét xử của các cơ quan tư pháp. Trên thế giới, khi nói tới thuật ngữ “Tư pháp” (tiếng Anh là Justice) theo nghĩa chung nhất là công lý. Đồng tình với cách hiểu này, Tiến sĩ Nguyễn Đình Lộc và PGS.
Tiến sĩ Hoàng Thế Liên cho rằng "Tư pháp" với nghĩa chung nhất là một ý tưởng về một nền công lý, đòi hỏi việc giải quyết mọi tranh chấp xảy ra trong xã hội phải đúng pháp luật, phù hợp với lẽ công bằng và bảo đảm lòng tin của nhân dân và xã hội vào pháp luật, góp phần duy trì trật tự pháp luật, bảo đảm sự an toàn pháp lý cho cá nhân, sự ổn định và phát triển của xã hội [44, tr. Có ý kiến cho rằng “Tư pháp” còn được hiểu là “nền tư pháp” của một quốc gia [119, tr. Theo tác giả của quan niệm này thì “Tư pháp” bao gồm cả hệ thống pháp luật và các thiết chế nhằm duy trì và bảo đảm thi hành một cách nghiêm minh pháp luật đó và cơ quan tư pháp theo quan niệm này bao gồm các cơ quan Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, tư pháp, thanh tra, trọng tài kinh tế [54, tr. Tiến sĩ Trần Đình Nhã cho rằng "Tư pháp" có nhiệm vụ “duy trì và bảo vệ công lý” [53, tr.
52] nên những “Co quan nhà nước nào được tổ chức với mục đích (chức năng) hoạt động chủ yếu là duy trì và bảo vệ công lý thì cơ quan đó sẽ thuộc hệ thống tư pháp ” và “Cơ quan nào trong hoạt động của mình thường xuyên hoặc chủ yếu áp dụng thủ tục tài phán thì đó là cơ quan tư pháp”, bởi vì chính nội dung công lý đã làm nảy sinh, duy trì hình thức tài phán và tác giả khẳng định: “Lịch sử nhân loại vẫn thừa nhận tài phán là hình thức công bằng (tương đối) trong việc bảo vệ và giải quyết những vấn đề về công lý ” (53, tr. Như vậy, “Hệ thống tư pháp bao gồm các cơ quan và thiết chế nhà nước thực hiện chức năng chủ yếu là duy trì và bảo vệ 12 công lý bằng các biện pháp và thủ tục đặc thà dựa trên nguyên tắc tài phán ” [53, tr. Với quan niệm chung như vậy, PGS. Tiến sĩ Trần Đình Nhã cho rằng ngoài cơ quan tài phán (Toà án), cơ quan tư pháp còn bao gồm các cơ quan khác phục vụ trực tiếp (và đối với họ đó là chức năng chủ yếu) cho hoạt động tài phán.
Tuy nhiên, tác giả không đưa ra cụ thể các cơ quan tư pháp ở Việt Nam là những cơ quan nào. Theo nghĩa Hán - Việt, thuật ngữ “Tư pháp” còn có nghĩa là “gìn giữ pháp luật” hay “bảo vệ pháp luật” ("tư" có nghĩa là giữ, bảo vệ; "pháp" có nghĩa là pháp luật, pháp chế). Đồng tình với quan điểm này, nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động nhà nước cho rằng quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia nên “Tư pháp” không thể hiểu là một quyền tư pháp độc lập, do một hệ thống cơ quan độc quyền nắm giữ, mà "Tư pháp" cần được hiểu theo nghĩa “bảo vệ pháp luật”. Hoạt động tư pháp (bảo vệ pháp luật) bao gồm nhiều hoạt động (hành pháp và tư pháp) do nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau thực hiện theo sự phân công của nhà nước.
Theo quan điểm này thì hệ thống cơ quan tư pháp đồng nghĩa với các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật và có thể gọi là cơ quan bảo vệ pháp luật. Quan điểm này nhìn tổng thể là phù hợp với cơ chế quyền lực nhà nước thống nhất, nhưng chưa có sức thuyết phục bởi lẽ trong khoa học pháp lý và trong thực tiễn, các cơ quan tư pháp không đồng nghĩa với các cơ quan bảo vệ pháp luật, bởi vì chức năng bảo vệ pháp luật không chỉ được giao cho các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội mà còn là quyền và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân. Nhiệm vụ bảo vệ pháp luật của nhà nước, giữ gìn kỷ cương xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là mục tiêu và nhiệm vụ của toàn xã hội do hệ thống kiểm tra, kiểm soát xã hội (Social Control) thực hiện. Tiến sĩ khoa học luật Đào Trí Úc thì hệ thống tư pháp là một hệ thống các cơ quan, thiết chế thực hiện quyền lực nhà nước, chỉ là “một bộ phận hợp thành của hệ thống kiểm tra xã hội để duy trì và bảo vệ kỷ cương và trật tự xã hội”.
Tiến sĩ khẳng định “Hệ thống tư pháp là một bộ phận quyền lực nhà nước nằm trong khâu tạo thành hệ thống trong kiểm tra của xã hội thông qua nhà nước ” [105, tr. Như vậy, hệ thống các cơ quan tư pháp không thể đồng nghĩa với các cơ quan bảo vệ pháp luật, bởi không phải tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật đều mang quyền lực nhà nước, đều thực hiện quyền tư pháp và vì vậy cũng không thể là cơ quan tư pháp. 13 Ngoài ra, nhiều nhà khoa học cho rằng hệ thống các cơ quan tư pháp là những cơ quan trong bộ máy nhà nước, được nhà nước giao thực hiện quyền tư pháp và thể hiện quyền lực nhà nước theo đúng nghĩa của nó, chứ không bao gồm cả các cơ quan, tổ chức xã hội mà hoạt động của chúng chỉ mang tính chất hỗ trợ cho hoạt động tư pháp, đúng như GS. Tiến sĩ khoa học Dao Trí Úc khẳng định: "Hệ thống tư pháp là một bộ phận quyền lực nhà nước, là một hệ thống các cơ quan và thiết chế thực hiện quyền lực nhà nước" [105, tr.
“Tư pháp” còn được sử dụng để chỉ một loại cơ quan trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước, đó là các cơ quan thuộc hệ thống ngành tư pháp bao gồm: Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và Ban Tư pháp. Đây là những cơ quan hành pháp có chức năng giúp Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về một số lĩnh vực hành chính tư pháp và bổ trợ tư pháp. Thuật ngữ “Tư pháp” còn dùng để chỉ một bộ phận của hệ thống pháp luật của một quốc gia. Trong các nhà nước theo hệ thống pháp luật lục địa (Continental Law System), pháp luật được chia thành hai bộ phận: Công pháp gồm những ngành luật điều chỉnh những quan hệ xã hội có tính “công” như luật hành chính, luật hình sự.
và Tư pháp gồm những ngành luật điều chỉnh các quan hệ “tư” như luật dân sự, luật hôn nhân gia đình, luật thương mại, luật lao động. Trong phạm vi của luận án này, thuật ngữ “Tư pháp” được dùng để chỉ thiết chế quyền lực nhà nước, trực tiếp thực hiện quyền tư pháp trong tổng thể quyền lực nhà nước thống nhất. Xét dưới góc độ thiết chế quyền lực nhà nước thì “Tư pháp" là một trong ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp trong tổng thể quyền lực nhà nước. Ba loại quyền lực nói trên được giao cho ba nhánh cơ quan quyền lực là lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhằm tạo ra cơ chế kiểm tra và giám sát lẫn nhau.