Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ðỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ðỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI 1.1 Thương mại và dịch vụ Thương mại theo nghĩa rộng ñược hiểu là toàn bộ các hoạt ñộng kinh doanh trên thị trường; ñó là quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ nhằm mục ñích thu lợi nhuận, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá, thể hiện trong công thức của Các Mác: T-H-T’; T’ = T+ ∆ T; Tiền - hình thái ñộc lập của giá trị trao ñổi, là ñiểm xuất phát, việc tăng giá trị trao ñổi là mục ñích ñộc lập ở giai ñoạn ñầu của xã hội tư bản chủ nghĩa [31]. Hoạt ñộng thương mại ñược quy ñịnh tại ðiều 3 của Luật thương mại ñược Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 quy ñịnh “Hoạt ñộng thương mại là hoạt ñộng nhằm mục ñích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, ñầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt ñộng nhằm mục ñích sinh lợi khác” [36]. Ngµy nay, luật thương mại quốc tế coi hoạt ñộng ñầu tư, tín dụng và chuyển giao công nghệ cũng là hoạt ñộng thương mại. Trong thương mại có ba lĩnh vực chính: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và thương mại ñầu tư.
Trong suốt quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới, ñẩy mạnh sự phát triển thương mại luôn ñược ñặt ở vị trí trọng tâm trong các mục tiêu tăng trưởng và phát triển của các quốc gia. ðối với các nước ñang phát triển như Việt Nam, phát triển thương mại là tất yếu cho quá trình tăng trưởng và hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Trong khuôn khổ của GATT/WTO, tại vòng ñàm phán Uruguay diễn ra từ năm 1986 ñến năm 1994, các nước thành viên của GATT ñã thông qua Hiệp ñịnh chung về thương mại dịch vụ (General Agreement on Trade in Services, viết tắt là GATS). Hiệp ñịnh ñược thiết lập nhằm mở rộng phạm vi ñiều chỉnh của hệ thống thương mại ña phương sang lĩnh vực dịch vụ chứ không chỉ ñiều chỉnh một mình lĩnh vực thương mại hàng hóa như trước ñó.
Theo phân ngành hiện nay của Tổ 17 chức thương mại thế giới (WTO) thì ngành thương mại là một ngành kinh tế dịch vụ trong cơ cấu ngành kinh tế. ðối với dịch vụ thì hiện tại vẫn còn nhiều tranh cãi và chưa thống nhất về khái niệm, nội dung cũng như phương pháp luận. Tuy nhiên, trước sự ñòi hỏi của thực tế về dịch vụ, ña phần các nước thống nhất cần thiết phải xây dựng một danh mục các hoạt ñộng dịch vụ ñể sử dụng thống nhất. Có nhiều ñịnh nghĩa cho rằng dịch vụ là vô hình, còn hàng hoá là hữu hình; hoặc dịch vụ là sản phẩm mà tại ñó hoạt ñộng sản xuất, cung ứng dịch vụ và tiêu dùng nó xảy ra ñồng thời, không thể dự trữ ñược.
Hoặc theo Hill, T. (1977) - nhà kinh tế học người Anh ñưa ra “Một dịch vụ có thể ñược giải thích như một thay ñổi ñiều kiện của một người hoặc một hàng hoá của các ñơn vị, cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp. ðó là kết quả hoạt ñộng của một ñơn vị kinh tế nhưng ñã có sự thoả thuận trước ñược phục vụ cho người hoặc ñơn vị kinh tế khác” [83], quan ñiểm này có ưu ñiểm là xuất phát từ nội dung kinh tế của hoạt ñộng dịch vụ nên ñược sử dụng rộng rãi. Dịch vụ chiếm vị trí rất quan trọng trong cơ cấu GDP quốc gia cũng như trong các hoạt ñộng thương mại quốc tế; rất nhiều ngành dịch vụ là ñầu vào cho các ngành khác và hỗ trợ sản xuất hàng hoá.
Bản thân các ngành dịch vụ cũng cần sử dụng một số dịch vụ ñầu vào khác, ví dụ như với dịch vụ ñầu vào là công nghệ thông tin ñã giúp cho nhiều ngành dịch vụ như tài chính - ngân hàng có những bước tiến nhảy vọt trong hoạt ñộng thanh toán ñiện tử cũng như nhiều ngành dịch vụ khác. Cung cấp dịch vụ ñủ với mức chi phí hợp lý giúp giảm chi phí giao dịch cho các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu và do ñó quyết ñịnh khả năng cạnh tranh trong tăng trưởng và phát triển kinh tế. Do tăng trưởng của các ngành sản xuất gắn liền với tăng trưởng của các ngành dịch vụ, nên những hạn chế của ngành dịch vụ chắc chắn sẽ tác ñộng tới phát triển và ổn ñịnh kinh tế vĩ mô. Thương mại dịch vụ hiện nay theo thông lệ quốc tế ñược hiểu là sự cung cấp dịch vụ thông qua các phương thức khác nhau ñể ñổi lấy tiền công cho sự cung cấp dịch vụ ñó.
Một số dịch vụ như giáo dục, y tế là những ngành dịch vụ chứa ñựng các khiếm khuyết của thị trường hay các ngoại ứng tiêu cực như ô nhiễm, lây lan 18 bệnh tật và dịch bệnh [Ngoại ứng, tiếng Anh ñược dùng là Externalities, ñã ñược dịch ra tiếng Việt theo nhiều nghĩa như ngoại ứng, ngoại hiện, ngoại tác; trong luận án này tác giả sử dụng là ngoại ứng]. Bằng cách tài trợ, cung ứng, ñiều tiết các dịch vụ mang tính xã hội như các dịch vụ y tế, giáo dục thuộc trách nhiệm của chính phủ của các quốc gia nhằm ñảm bảo cho mọi người dân ñều ñược tiếp cận với hệ thống giáo dục, y tế một cách công bằng. Bất cứ những khó khăn của chính phủ trong việc cung cấp các dịch vụ này thì khu vực công cũng không thể quay lưng lại ñược với giáo dục, y tế; và quan trọng nhất là chính phủ với sự phối hợp với khu vực tư nhân, các tổ chức quốc tế và các ñối tác khác có thể vận hành và làm tròn trách nhiệm ñó tốt ñến ñâu.2 Lý luận chung về quản lý nhà nước và ñổi mới quản lý nhà nước về thương mại Quản lý ñược hiểu là sự tác ñộng của chủ thể quản lý lên ñối tượng (khách thể) quản lý nhằm ñạt mục tiêu ñặt ra. Quản lý hiểu theo nghĩa chung nhất là hoạt ñộng của con người và các tổ chức (bộ máy) quản lý ñể tác ñộng lên khách thể quản lý.
Khách thể quản lý bao gồm cả con người, tổ chức, bộ máy cũng như mọi hoạt ñộng của chúng và các ñiều kiện vật chất tương ứng. Quản lý là hoạt ñộng tất yếu nảy sinh. Từ khái niệm chung về quản lý cho thấy quản lý nhà nước là sự tác ñộng có tổ chức và ñiều chỉnh bằng quyền lực nhà nước ñối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt ñộng của con người ñể duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc. Về mặt pháp lý, chủ thể quản lý nhà nước là Nhà nước với hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước và cán bộ công chức trong cơ quan ñó [14].
Thực chất của quản lý kinh tế nói chung là quản lý con người, hoạt ñộng kinh tế và thông qua con người ñể thực hiện mọi nhiệm vụ ñặt ra cho các hệ thống kinh tế. Hơn nữa, bản chất của quản lý nhà nước về kinh tế là phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị, giai cấp nắm chính quyền (Nhà nước). Nhà nước xã hội chủ nghĩa với chế ñộ công hữu và chính quyền nằm trong tay nhân dân không có nghĩa là Nhà 19 nước ñó sẽ ñem lại cuộc sống tốt ñẹp cho mọi người bằng bất kỳ cách quản lý nào của mình. ðiều ñó còn phụ thuộc vào cách Nhà nước quản lý nền kinh tế như thế nào.
Công cụ quản lý của Nhà nước chủ yếu là bằng pháp luật. Nhà nước chi phối tất cả các ñơn vị kinh tế ràng buộc và tạo môi trường cho tất cả hoạt ñộng trong trật tự kỷ cương, tạo cơ sở pháp lý cho các ñơn vị quản lý nội bộ và quan hệ với nhau. Hình thức chủ yếu là Nhà nước ra các văn bản quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước về kinh tế là sự quản lý của Nhà nước ñối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực nhà nước thông qua cơ chế quản lý kinh tế nhằm ñảm bảo tốc ñộ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân, ñược chủ yếu thực hiện thông qua cơ quan hành pháp là chính phủ.
Trong quản lý, Nhà nước sử dụng tất cả các biện pháp có thể có ñể can thiệp vào nền kinh tế nhằm hạn chế và khắc phục những khiếm khuyết của thị trường mà bản thân cơ chế tự ñiều tiết của thị trường không khắc phục ñược, cũng như tạo nên sự ổn ñịnh kinh tế vĩ mô và thúc ñẩy công bằng xã hội. Thị trường không thể tự thân vận ñộng có hiệu quả mà nó ñòi hỏi một khung pháp lý, quy chế và chính sách mà chỉ có chính phủ mới có thể tạo ra ñược. Tuy nhiên, không phải là Nhà nước hay thị trường có vai trò khống chế mà là mỗi bên có vai trò, chức năng riêng. Hình thức hoạt ñộng quản lý nhà nước ñược hiểu là sự biểu hiện về hoạt ñộng quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình ñối với các quan hệ xã hội.
ðổi mới quản lý nhà nước về kinh tế không thể ñược hiểu là những khâu tách rời nhau mà là quá trình tác ñộng qua lại thường xuyên, các cơ hội khách quan và chủ quan mang lại, ñược ñiều tiết bởi những công cụ và phương tiện của Nhà nước ñể ñạt ñược các mục tiêu tăng trưởng và phát triển. ðổi mới là một quá trình phức tạp bởi sự hoà trộn của một loạt các chính sách; bởi không thể có chỉ một chính sách nào có thể tạo ra sự phát triển. ðổi mới là một quá trình có sự tác ñộng qua lại giữa các yếu tố. Vấn ñề cần nghiên cứu là khi kết hợp một loạt các chiến lược ñan xen trong quá trình ñổi mới liệu có phải là sẽ ñem lại kết quả tốt cho tăng trưởng và phát triển kinh tế hay không, những nguyên tắc chung nhất cho sự can 20 thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế là gì và với mức ñộ nào là phù hợp.
Ngày nay, nhiều nghiên cứu trong khu vực công ñã chỉ ra rằng khu vực tư nhân và các biện pháp ưu ñãi có hiệu quả hơn chính phủ (Easterly 2001)[75].