Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Đổi mới quản lý nhà nước đối với sự phát triển thương mại trên địa bàn Thành phố Hà Nội" do nghiên cứu sinh Ngô Tuấn Anh thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, năm 2007), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đồng Xuân Ninh và GS.TS Đàm Văn Nhuệ, thuộc chuyên ngành Kinh tế, Quản lý và Kế hoạch hoá KTQD (Mã số: 5.05).

Về tính cấp thiết, công trình xuất phát từ bối cảnh thực tiễn 20 năm Đổi mới (1986-2006). Trong giai đoạn 2001-2005, cơ cấu kinh tế Hà Nội có sự chuyển dịch rõ nét theo hướng hiện đại hóa với mô hình "dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp", trong đó khu vực dịch vụ chiếm 57,5% và công nghiệp chiếm 40,5% GDP. Kim ngạch xuất khẩu của thành phố tăng trưởng bình quân 15,4%/năm (từ 1.402 triệu USD năm 2000 lên 2.866 triệu USD năm 2005), hàng hóa hiện diện tại 187 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, do tồn tại lâu năm dưới cơ chế kế hoạch hóa tập trung, công tác quản lý nhà nước về thương mại của Thủ đô vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập, tư duy quản lý hành chính cũ chưa được giải quyết triệt để. Cùng thời điểm này, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và thực thi các cam kết quốc tế (AFTA, Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ BTA), đặt ra yêu cầu cấp bách phải hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các đề án, chương trình phát triển xuất khẩu của thành phố trước đó (như Quyết định số 7907/QĐ-UB năm 2001 hay Quyết định số 3669/QĐ-UB năm 2005 của UBND Thành phố Hà Nội) chủ yếu tập trung vào các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu đơn thuần, chưa tiếp cận một cách toàn diện và có hệ thống vấn đề đổi mới quản lý nhà nước về thương mại trên địa bàn trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là thông qua hệ thống hóa cơ sở lý luận, nghiên cứu bài học kinh nghiệm thực tiễn trong và ngoài nước, luận án xác định phương hướng, mục tiêu và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm đổi mới quản lý nhà nước đối với sự phát triển thương mại trên địa bàn Thành phố Hà Nội.

Văn bản luận án đặt ra bốn câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Thương mại có tầm quan trọng như thế nào đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của Thành phố Hà Nội?
  2. Tại sao phải đổi mới quản lý nhà nước đối với sự phát triển thương mại trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay?
  3. Những nhân tố tác động tới quản lý nhà nước về thương mại của Thành phố Hà Nội hiện nay là gì?
  4. Những giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới quản lý nhà nước đối với sự phát triển thương mại của Hà Nội trong thời gian tới là gì? Những đóng góp mới là gì?

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những nội dung cơ bản về quản lý nhà nước đối với sự phát triển thương mại của Việt Nam và Hà Nội trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động của ngành thương mại trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Thời gian nghiên cứu bao quát từ năm 1986 đến năm 2006, trong đó trọng tâm phân tích sâu được đặt vào giai đoạn 2001-2006 và định hướng kế hoạch đến năm 2010, tầm nhìn 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan, luận án phân loại và điểm lại các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các nhóm nội dung:

Thứ nhất, nhóm các nghiên cứu trong nước về thương mại và quản lý thương mại tại Hà Nội cũng như cả nước:

  • Nguyễn Văn Tuấn (2002), luận án tiến sĩ kinh tế tại Đại học Kinh tế Quốc dân với đề tài "Chiến lược phát triển thương mại Hà Nội", phân tích thương mại Hà Nội theo quan điểm quản trị chiến lược.
  • Phan Tố Uyên (2001), luận án tiến sĩ tại Đại học Kinh tế Quốc dân với đề tài "Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh kinh doanh ở các doanh nghiệp thương mại nhà nước trên địa bàn Hà Nội".
  • Hoàng Thị Hoan (2003), luận án tiến sĩ tại Đại học Kinh tế Quốc dân với đề tài "Nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các doanh nghiệp điện tử Việt Nam", đề xuất giải pháp theo hướng đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế.
  • Bộ Thương mại (2005), Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia "Thương mại Việt Nam – 20 năm đổi mới", đánh giá quá trình phát triển thương mại và đổi mới quản lý thương mại giai đoạn 1986-2005.
  • UBND Thành phố Hà Nội với tổng kết "Thương mại thủ đô – 20 năm đổi mới"; Thành ủy Hà Nội với công trình nghiên cứu khoa học trọng điểm 01X-13 "Hai mươi năm đổi mới ở thủ đô Hà Nội, định hướng phát triển đến năm 2010".
  • Các giáo trình chuyên ngành: Giáo trình "Kinh tế & quản lý ngành thương mại dịch vụ" do Đặng Đình Đào chủ biên; Giáo trình "Kinh tế Thương mại" của Đặng Đình Đào và Hoàng Đức Thân; Giáo trình "Hướng dẫn thực hành kinh tế quản lý" của Vũ Kim Dũng và Cao Thúy Xiêm; Giáo trình "Quản lý Nhà nước về kinh tế" của Mai Văn Bưu và Phan Kim Chiến.

Thứ hai, nhóm nghiên cứu về kinh tế Việt Nam và quản lý kinh tế của các tổ chức, chuyên gia quốc tế:

  • David O. Dapice (2003) với các nghiên cứu "Nền kinh tế Việt Nam: câu chuyện thành công hay tình trạng lưỡng thể bất thường", "Thành công và thất bại: Lựa chọn đường đi đúng cho sự tăng trưởng dựa vào xuất khẩu"; và nghiên cứu phối hợp giữa David O. Dapice, Nguyễn Đình Cung, Phạm Anh Tuấn, Bùi Văn (2004) "Lịch sử hay chính sách: Tại sao các tỉnh phía Bắc không tăng trưởng nhanh hơn" cho Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright.
  • Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) phối hợp Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2005) với công trình "Đánh giá tác động của Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ đến đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ tại Việt Nam".
  • Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM, 2001) với Báo cáo chuyên đề "Những quan niệm và khung khổ phân tích tính cạnh tranh".

Thứ ba, nhóm nghiên cứu quốc tế về thương mại, thể chế và vai trò nhà nước:

  • Wade McKenzie (2004), luận án tiến sĩ tại Đại học Calgary (Canada) về "Chiến lược mở rộng thị trường nước ngoài – dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa".
  • Yusuf Ahmad (1998), luận án tiến sĩ tại Đại học Howard (Hoa Kỳ) về "Ngoại thương, tăng trưởng kinh tế, và nguyên nhân: thể hiện từ kết quả phân tích chuỗi thời gian đối với các nước ASEAN".
  • Diễn đàn Kinh tế - Tài chính Việt Pháp (2000) với báo cáo "Tiến đến xây dựng một nhà nước với vai trò là nhà hoạch định chiến lược, bảo đảm cho lợi ích chung".
  • Ngân hàng Thế giới (World Bank, 1999, 2000) với Báo cáo phát triển thế giới "Bước vào thế kỷ 21" và báo cáo "Đông Á: phục hồi và phát triển".
  • Joseph E. Stiglitz (2002, 2003) với các công trình "Toàn cầu hóa và những mặt trái", "Thông tin và sự thay đổi mô hình trong kinh tế".
  • Michael Porter (1990a, 1990b, 2001) với các nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh quốc gia, chiến lược và Internet.
  • Paul Krugman (1994) về năng lực cạnh tranh và bài học từ khủng hoảng kinh tế Đông Á.
  • Các lý thuyết kinh tế cổ điển và hiện đại: Các Mác trong bộ "Tư bản"; Adam Smith; John Maynard Keynes; Robert Pindyck; Michael P. Todaro; Alexander Gerschenkron (1962); Anne O. Krueger (1996); Robert Solow (1957, 1987); Paul Romer (1986, 1987, 1990); Robert Lucas (1988); Gene Grossman và Elhanan Helpman (1992); T. P. Hill (1977); William Easterly (2001); Justin Yifu Lin và Jeffrey B. Nugent (1995); Leora Klapper và Stijn Claessens (2002); Douglas Irwin và Marko Tervio (2000); Edward Denison (1985); Stephen Roach (1994).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các nghiên cứu đi trước đã phân tích nhiều khía cạnh về chiến lược thương mại, sức cạnh tranh của doanh nghiệp hay tác động của chính sách mở cửa, song chưa có công trình nào giải quyết đồng bộ và trực diện vấn đề đổi mới quản lý nhà nước về thương mại ở cấp độ chính quyền đô thị trung tâm như Hà Nội trong giai đoạn bản lề chuyển từ mở cửa từng phần sang hội nhập toàn diện theo các cam kết WTO. Luận án định vị rõ mục tiêu lấp đầy khoảng trống này bằng cách kết hợp khung lý thuyết kinh tế học công cộng và lợi thế cạnh tranh để tái định hình công cụ, bộ máy quản lý nhà nước tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết kinh tế học chính quy để luận giải về sự can thiệp của Nhà nước đối với thương mại:

Thứ nhất, bản chất thương mại và dịch vụ: Luận án vận dụng định nghĩa tại Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 (hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại), công thức lưu thông tư bản của Các Mác ($T - H - T'$ với $T' = T + \Delta T$), định nghĩa dịch vụ của T. P. Hill (1977) dựa trên nội dung kinh tế của sự chuyển dịch điều kiện hàng hóa/con người, và phân ngành dịch vụ theo Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) của WTO.

Thứ hai, lý luận quản lý nhà nước về kinh tế và thương mại: Quản lý nhà nước về thương mại được xác định là sự tác động có tổ chức bằng quyền lực nhà nước, thông qua các thể chế và công cụ (luật pháp, chính sách, quy hoạch, kế hoạch) nhằm đảm bảo thị trường phát triển theo trật tự kỷ cương, đúng quy tắc thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ và quyền hạn của chính quyền cấp tỉnh được xác định căn cứ theo Điều 87 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 và Điều 22 Luật Tổ chức Chính phủ.

Thứ ba, khung lý thuyết về vai trò kinh tế của Nhà nước và khắc phục các thất bại thị trường: Luận án chỉ rõ hai nhiệm vụ chuẩn tắc của Nhà nước là khắc phục khuyết tật thị trường và cung ứng dịch vụ công, bảo đảm công bằng xã hội. Các nguyên nhân thất bại thị trường được tác giả phân tích chi tiết:

  • Thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information): Gây ra hiện tượng lựa chọn đối nghịch (adverse selection) và tâm lý ỷ lại (moral hazard), đòi hỏi Nhà nước phải minh bạch hóa thông tin và chuẩn hóa quy định.
  • Thất bại do độc quyền và thiếu liên kết hợp tác: Doanh nghiệp độc quyền hạn chế sản lượng để nâng giá làm tổn hại phúc lợi xã hội; Nhà nước can thiệp thông qua chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền (tham chiếu Điều 81, 82 Hiệp ước thành lập Cộng đồng châu Âu).
  • Ngoại ứng (Externalities) và hiệu quả kinh tế theo quy mô (Economies of Scale): Ngoại ứng tích cực xuất hiện từ hoạt động R&D và công nghệ thông tin (theo Romer, Grossman và Helpman); lợi thế kinh tế quy mô bên trong và bên ngoài là cơ sở thúc đẩy ngoại thương nhưng cũng tạo rào cản gia nhập thị trường cần sự điều tiết công bằng.
  • Cung ứng dịch vụ công: Nhà nước chịu trách nhiệm trực tiếp hoặc điều tiết khu vực tư nhân tham gia cung cấp các dịch vụ thiết yếu phục vụ xã hội.

Thứ tư, khung phân tích năng lực cạnh tranh: Vận dụng mô hình "Khối kim cương" (Diamond Model) của Michael Porter (1990) gồm bốn nhân tố cơ bản (điều kiện các yếu tố sản xuất; điều kiện về cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan; chiến lược, cơ cấu công ty và đối thủ cạnh tranh) cùng hai biến số tác động là Chính phủ và Yếu tố thời cơ. Luận án phân tích thêm mô hình tác động của Internet và công nghệ thông tin đến năm áp lực cạnh tranh ngành theo nghiên cứu của Porter (2001).

Về phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận chung: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích các hiện tượng kinh tế trong mối quan hệ vận động, phát triển gắn liền với các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX, X.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận án là công trình nghiên cứu định tính kết hợp phân tích dữ liệu thống kê mô tả. Tác giả áp dụng phương pháp so sánh (giữa các giai đoạn, giữa Hà Nội với cả nước và các tỉnh lân cận), phương pháp phân tích - tổng hợp thông tin, phương pháp thống kê kinh tế, phương pháp mô hình hóa và đồ thị hóa để minh họa các mối quan hệ kinh tế.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp chính thức từ Niên giám thống kê Hà Nội, Tổng cục Thống kê, Sở Thương mại Hà Nội, số liệu hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội giai đoạn 2001-2005, các báo cáo đánh giá Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), kết quả khảo sát của Economist Intelligence Unit (EIU, 2004) về môi trường thương mại điện tử, cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và Thành phố Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với sự phát triển thương mại

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với thương mại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và bối cảnh hội nhập quốc tế. Tác giả làm rõ nội hàm thương mại theo nghĩa rộng, sự phát triển của thương mại dịch vụ và vị trí của thương mại dịch vụ trong khuôn khổ GATS/WTO.

Về bản chất quản lý nhà nước, chương 1 khẳng định Nhà nước quản lý thương mại bằng quyền lực công thông qua hệ thống thể chế, luật pháp, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch. Chức năng quản lý kinh tế được tiếp cận theo hai hướng: theo tiến trình quản lý (định hướng, tổ chức, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh) và theo phương hướng tác động (tạo lập môi trường, dẫn dắt hỗ trợ, gắn kết kinh tế với xã hội, quản lý doanh nghiệp nhà nước).

Tác giả luận giải sâu sắc ba thất bại thị trường cơ bản (thông tin bất cân xứng, độc quyền, ngoại ứng và lợi thế kinh tế theo quy mô) làm căn cứ chuẩn tắc cho sự can thiệp của chính quyền. Chương 1 chỉ ra các nhân tố then chốt tác động đến quản lý nhà nước về thương mại gồm:

  • Quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi đổi mới căn bản tư duy quản lý từ mệnh lệnh hành chính sang kiến tạo và điều tiết.
  • Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, việc thực thi các cam kết gia nhập WTO, các hiệp định song phương (BTA) và khu vực (AFTA) làm giảm các công cụ bảo hộ truyền thống, gia tăng sức ép cạnh tranh.
  • Tác động của cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và Internet đối với thương mại điện tử (phân tích nghịch lý Solow, mô hình kim cương của Michael Porter và tác động của Internet đến chuỗi giá trị và cơ cấu cạnh tranh).

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về thương mại trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Chương 2 đánh giá thực trạng phát triển thương mại và công tác quản lý nhà nước của Hà Nội trong giai đoạn 1986-2006, tập trung vào giai đoạn 2001-2005:

Về thực trạng phát triển thương mại: Cơ cấu kinh tế thành phố chuyển dịch tích cực, tỷ trọng dịch vụ đạt 57,5% GDP giai đoạn 2001-2005. Xuất khẩu tăng trưởng bình quân 15,4%/năm, kim ngạch năm 2005 đạt 2.866 triệu USD. Thị trường xuất khẩu vươn tới 187 quốc gia và vùng lãnh thổ. Thị trường nội địa phát triển với sự gia tăng tốc độ lưu chuyển hàng hóa bán lẻ, mạng lưới bán lẻ xăng dầu, các hội chợ triển lãm thương mại, cùng sự đóng góp của các ngành dịch vụ ngân hàng, du lịch.

Chỉ tiêu kinh tế - thương mại Hà Nội Giai đoạn 2001 - 2005
Tỷ trọng ngành Dịch vụ trong GDP bình quân 57,5%
Tỷ trọng ngành Công nghiệp trong GDP bình quân 40,5%
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân 15,4%/năm
Kim ngạch xuất khẩu năm 2000 1.402 triệu USD
Kim ngạch xuất khẩu năm 2005 2.866 triệu USD
Thị trường xuất khẩu hàng hóa 187 quốc gia và vùng lãnh thổ

Về thực trạng quản lý nhà nước: Tác giả phân tích sơ đồ tổ chức bộ máy của Sở Thương mại Hà Nội, việc vận dụng các công cụ quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới thương mại, công tác quản lý thị trường, kiểm soát giá cả, chống buôn lậu và gian lận thương mại. Công tác cải cách thủ tục hành chính, cấp phép kinh doanh và hỗ trợ xúc tiến thương mại có những chuyển biến nhất định.

Về bài học kinh nghiệm và các vấn đề đặt ra: Luận án chỉ rõ công tác quản lý nhà nước về thương mại của thành phố còn bộc lộ nhiều hạn chế. Tư duy quản lý ở một số bộ phận vẫn mang nặng tính bao cấp, cơ chế "xin - cho" chưa được xóa bỏ hoàn toàn. Bộ máy tổ chức của Sở Thương mại còn cồng kềnh, chức năng nhiệm vụ chồng chéo, năng lực đội ngũ cán bộ công chức chưa tương xứng với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Môi trường đầu tư kinh doanh và Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Hà Nội còn nhiều chỉ số thành phần thấp. Việc phát triển thương mại điện tử còn chậm, hạ tầng viễn thông và thanh toán điện tử chưa đáp ứng yêu cầu (phản ánh qua việc xếp hạng môi trường thương mại điện tử của Việt Nam xếp thứ 60/62 theo khảo sát EIU năm 2004).

Chương 3: Đổi mới quản lý nhà nước đối với sự phát triển thương mại trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Chương 3 đề xuất phương hướng, mục tiêu và hệ thống giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về thương mại của thành phố đến năm 2010, định hướng đến năm 2015:

Về định hướng và mục tiêu: Xác định phát triển thương mại Hà Nội theo hướng văn minh, hiện đại, phát huy vai trò trung tâm thương mại và giao dịch của cả nước; đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm chủ lực, có giá trị gia tăng cao; củng cố và hiện đại hóa thị trường nội địa; dự báo tốc độ tăng trưởng lưu chuyển hàng hóa và các chỉ tiêu xuất khẩu hàng hóa, xuất khẩu dịch vụ kế hoạch 2006-2010.

Nhóm giải pháp đổi mới Nội dung cụ thể được đề xuất trong luận án
1. Hoàn thiện thể chế và chính sách Rà soát, sửa đổi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thương mại của địa phương phù hợp với Luật Thương mại 2005 và các cam kết gia nhập WTO; xóa bỏ các quy định hành chính bất hợp lý.
2. Đổi mới tổ chức bộ máy và cán bộ Kiện toàn cơ cấu tổ chức Sở Thương mại Hà Nội; phân định rõ thẩm quyền quản lý giữa các cấp; chuẩn hóa và đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, luật pháp quốc tế cho cán bộ công chức.
3. Cải cách thủ tục hành chính Đơn giản hóa quy trình cấp phép kinh doanh, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ hành chính; nâng cao các chỉ số thành phần trong Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).
4. Phát triển thương mại điện tử Xây dựng môi trường pháp lý cho giao dịch điện tử cấp địa phương theo Luật Giao dịch điện tử 2005; phối hợp phát triển hạ tầng băng thông rộng, chữ ký số và hệ thống thanh toán qua ngân hàng; ứng dụng B2B, B2C, B2G.
5. Phát triển hạ tầng và xúc tiến thương mại Quy hoạch mạng lưới chợ, trung tâm thương mại, siêu thị; chuyên nghiệp hóa hoạt động hội chợ triển lãm; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường trong và ngoài nước.
6. Tăng cường liên kết vùng Thúc đẩy liên kết kinh tế - thương mại giữa Hà Nội với các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nhằm khai thác lợi thế quy mô và phân bổ nguồn lực hiệu quả.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các kết quả đạt được và đóng góp mới trên cả phương diện lý luận và thực tiễn:

Về mặt lý luận:

  • Luận án xây dựng cơ sở lý luận và xác định xu hướng đổi mới quản lý nhà nước đối với sự phát triển thương mại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.
  • Luận giải tính tất yếu của việc chuyển đổi phương thức quản lý nhà nước, làm rõ luận cứ chuẩn tắc cho sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường (khắc phục các khuyết tật thị trường về thông tin bất cân xứng, độc quyền, ngoại ứng và cung cấp dịch vụ công) kết hợp vận dụng mô hình "Khối kim cương" của Michael Porter vào việc xác định vai trò của Chính phủ đối với năng lực cạnh tranh ngành thương mại.

Về mặt thực tiễn:

  • Phân tích và đánh giá có hệ thống thực trạng 20 năm phát triển thương mại và quá trình đổi mới quản lý nhà nước về thương mại trên địa bàn Thành phố Hà Nội (1986-2006), chỉ rõ các thành tựu, yếu kém, nguyên nhân và rút ra các bài học kinh nghiệm quản lý đô thị.
  • Phân tích bối cảnh mới khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO, nhận diện các cơ hội, thách thức và những nhân tố mới tác động trực tiếp đến thương mại Thủ đô.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, cụ thể và có tính khả thi nhằm đổi mới quản lý nhà nước về thương mại trên địa bàn Hà Nội cho giai đoạn 2006-2010, tầm nhìn 2015; trong đó chú trọng kiện toàn tổ chức bộ máy Sở Thương mại, cải cách thủ tục hành chính để cải thiện chỉ số PCI, thúc đẩy thương mại điện tử và đẩy mạnh liên kết kinh tế với Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 1986-2006 (trọng tâm là 2001-2006). Thời điểm hoàn thành công trình (năm 2007) trùng với dấu mốc Việt Nam mới chính thức gia nhập WTO, do đó các phân tích về tác động của WTO chủ yếu dựa trên các cam kết và kịch bản dự báo, chưa có đủ dữ liệu thực chứng dài hạn để đo lường định lượng toàn diện biến động sau hội nhập.
  • Lĩnh vực thương mại điện tử tại thời điểm nghiên cứu còn ở giai đoạn sơ khai tại Việt Nam (hạ tầng pháp lý và thanh toán thẻ chưa đồng bộ, xếp hạng EIU 2004 ở mức thấp), nên các phân tích về thương mại điện tử mới dừng lại ở mức độ nhận diện rào cản và đề xuất định hướng phát triển ban đầu.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Đánh giá tác động thực tế của việc thực thi đầy đủ các cam kết WTO đối với thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ của Thủ đô sau năm 2007.
  • Nghiên cứu định lượng hiệu quả tác động của các chính sách quản lý nhà nước đối với tăng trưởng thương mại thông qua các mô hình kinh tế lượng.
  • Nghiên cứu chuyên sâu về quản lý các mô hình thương mại hiện đại, thương mại điện tử đa phương thức (B2B, B2C, B2G) và vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên môi trường số.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng và mục đích cụ thể:

Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Kinh tế, Quản lý và Kế hoạch hóa KTQD, Kinh tế Thương mại, Quản lý công có thể tham khảo Chương 1 về khung lý luận quản lý nhà nước về thương mại, các mô hình thất bại thị trường và phương thức vận dụng mô hình lợi thế cạnh tranh của Michael Porter trong nghiên cứu kinh tế ngành.

Đối với cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước:

  • Lãnh đạo và cán bộ chuyên môn tại Sở Thương mại (nay là Sở Công Thương), Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, các sở ban ngành liên quan có thể tham khảo Chương 2 và Chương 3 để rà soát tổ chức bộ máy, cải cách thủ tục hành chính, cải thiện các chỉ số PCI thành phần và xây dựng các chương trình phát triển hạ tầng thương mại đô thị.
  • Các nhà hoạch định chính sách thương mại tại Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) và các địa phương thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có thể khai thác các luận cứ về phân cấp quản lý và cơ chế liên kết kinh tế vùng để triển khai chính sách thương mại liên tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

1. Những kết quả phát triển kinh tế và xuất khẩu chủ yếu của Hà Nội giai đoạn 2001-2005 được luận án ghi nhận là gì? Trong giai đoạn 2001-2005, cơ cấu kinh tế Hà Nội chuyển dịch rõ rệt sang dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp, trong đó dịch vụ chiếm 57,5% và công nghiệp chiếm 40,5% GDP. Kim ngạch xuất khẩu của thành phố tăng từ 1.402 triệu USD năm 2000 lên 2.866 triệu USD năm 2005, đạt mức tăng trưởng bình quân 15,4%/năm. Hàng hóa của Hà Nội được xuất khẩu tới 187 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

2. Ba nguyên nhân dẫn đến thất bại của thị trường đòi hỏi Nhà nước phải can thiệp quản lý thương mại theo luận án là gì? Ba nguyên nhân được luận án phân tích cụ thể gồm: (1) Thông tin bất cân xứng giữa các bên trên thị trường dẫn đến hiện tượng lựa chọn đối nghịch và tâm lý ỷ lại; (2) Sự tồn tại của độc quyền làm vô hiệu hóa cạnh tranh lành mạnh, phân chia thị trường và gây thiệt hại cho người tiêu dùng; (3) Ngoại ứng (tích cực hoặc tiêu cực) cùng tính kinh tế theo quy mô trong sản xuất và tiêu dùng khiến cơ chế thị trường tự do không thể tự phân bổ nguồn lực đạt mức tối ưu Pareto.

3. Luận án vận dụng mô hình "Khối kim cương" của Michael Porter như thế nào trong phân tích quản lý thương mại? Luận án sử dụng mô hình "Khối kim cương" để giải thích lợi thế cạnh tranh quốc gia/ngành dựa trên bốn yếu tố nội tại: điều kiện nhân tố sản xuất, điều kiện về cầu, các ngành công nghiệp hỗ trợ - liên quan, cùng chiến lược - cơ cấu - đối thủ cạnh tranh; đồng thời nhấn mạnh hai yếu tố bổ sung là vai trò của Chính phủ và Yếu tố thời cơ. Luận án xác định vai trò của Nhà nước là tác động gián tiếp nhằm tạo lập môi trường thuận lợi, nâng cao năng suất và hỗ trợ các ngành có điều kiện giành lợi thế cạnh tranh, chứ không can thiệp bảo hộ cho các doanh nghiệp cụ thể.

4. Thực trạng môi trường thương mại điện tử Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu được luận án đánh giá qua dữ liệu nào? Luận án dẫn khảo sát năm 2004 của Cơ quan Tình báo Kinh tế (Economist Intelligence Unit - EIU) về môi trường thương mại điện tử tại 62 quốc gia, trong đó Việt Nam xếp hạng 60/62, thuộc nhóm kém phát triển nhất. Nguyên nhân do tỷ lệ người sử dụng Internet chưa cao, băng thông hạn chế, phương thức thanh toán qua thẻ tín dụng chưa phổ biến và khung khổ pháp lý điều chỉnh toàn diện hoạt động thương mại điện tử đến cuối năm 2005 vẫn chưa hoàn thiện (Luật Giao dịch điện tử được thông qua ngày 19/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/3/2006).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Tuấn Anh đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết kinh tế học về quản lý nhà nước đối với thương mại, làm rõ các căn cứ chuẩn tắc của sự can thiệp công quyền nhằm khắc phục thất bại thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh đô thị. Công trình đã phản ánh trung thực bức tranh 20 năm phát triển thương mại Hà Nội (1986-2006), phân tích thẳng thắn các tồn tại trong bộ máy tổ chức, thủ tục hành chính và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Trên cơ sở bối cảnh Việt Nam chính thức gia nhập WTO, luận án đã xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm đổi mới quản lý nhà nước về thương mại Thủ đô cho giai đoạn 2006-2010 và tầm nhìn 2015, đóng góp cơ sở khoa học thiết thực cho công tác quản lý thương mại địa phương trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.