đặt vấn đề trƣng mua đất vì dựa trên quan điểm không thừa nhận chế độ sở hữu tƣ nhân về đất đai, Nhà nƣớc - đại diện cho chủ sở hữu không thể mua lại chính những tài sản thuộc sở hữu của mình. Thuật ngữ “thu hồi đất” phù hợp với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đang áp dụng ở nƣớc ta hiện nay. Trưng dụng là biện pháp hành chính cho phép một cơ quan nhà nƣớc với điều kiện có bồi thƣờng, buộc tƣ nhân phải cho Nhà nƣớc sử dụng một động sản hay bất động sản trong một thời gian nhất định. Do đó, có thể hiểu, trưng dụng đất là việc Nhà nƣớc điều chuyển quyền sử dụng một diện tích đất trong một giai đoạn tạm thời từ ngƣời sử dụng đất hợp pháp sang Nhà nƣớc một cách bắt buộc theo thủ tục hành chính.
Nhƣ vậy, khác với thu hồi đất, nếu thu hồi đất dẫn đến chấm dứt vĩnh viễn quyền sử dụng đất của ngƣời có đất thì trƣng dụng đất chỉ chấm dứt quyền sử dụng đất của ngƣời có đất một cách tạm thời trong một thời gian nhất định. Cũng giống nhƣ thu hồi đất, việc trƣng dụng đất thực hiện trong điều kiện đƣợc quy định chặt chẽ nhằm mục đích vừa bảo đảm trƣng dụng trong trƣờng hợp thật cần thiết vừa bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ tài sản hợp pháp của ngƣời dân, cụ thể nhƣ sau: - Khi đất nƣớc trong tình trạng chiến tranh hoặc trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, an ninh, đe dọa sự ổn định về chế độ chính trị, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; - Khi các mục tiêu công trình quan trọng về an ninh quốc gia bị xâm hại hoặc có nguy cơ xảy ra sự cố nghiêm trọng gây phƣơng hại tới an ninh quốc gia; - Khi cần khắc phục thảm họa lớn do thiên tai, dịch bệnh gây ra. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Theo Luật Đất đai năm 2003 thì “bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là 8 việc Nhà nƣớc trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho ngƣời bị thu hồi đất”. Trong các điều khoản quy định cụ thể, Luật cũng quy định những thiệt hại về nhà ở, công trình xây dựng, cây trồng, vật nuôi trên đất do việc a thu hồi đất gây ra cũng đƣợc xem xét bồi thƣờng (Quốc hội, 2003 ).
Thực tế quá trình triển khai thi hành Luật, việc xác định loại thiệt hại, mức độ thiệt hại, đối tƣợng đƣợc bồi thƣờng cần đƣợc xem xét một cách toàn diện, cụ thể hơn: - Về xác định thiệt hại: ngoài thiệt hại về đất, nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất thì còn có những thiệt hại khác mà ngƣời sử dụng đất cần phải đƣợc bồi thƣờng nhƣ: thiệt hại về nguồn nƣớc sinh hoạt, tƣới tiêu, thiệt hại về cây trồng, vật nuôi, thiệt hại về môi trƣờng học tập, về dịch vụ y tế, vui chơi, giải trí, thiệt hại do chi phí đã đầu tƣ vào việc san lấp mặt bằng, thiệt hại do mất địa thế kinh doanh, các thiệt hại về sức khỏe do việc thực hiện dự án gây ra nhƣ: khói bụi, tiếng ồn, nƣớc thải. - Về xác định đối tƣợng đƣợc bồi thƣờng: đối tƣợng bị ảnh hƣởng từ việc thu hồi đất không chỉ là tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi mà còn bao gồm cả ngƣời đang sử dụng đất thuê, ngƣời sử dụng đất lân cận, ngƣời có lợi ích liên quan. Khái niệm “đền bù thiệt hại khi Nhà nƣớc thu hồi đất” đƣợc sử dụng trong Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993. Bắt đầu từ thời điểm thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, cụm từ “bồi thƣờng” đã đƣợc sử dụng thay cho cụm từ “đền bù thiệt hại” thể hiện tƣ tƣởng chỉ đạo đổi mới công tác giải phóng mặt bằng, đó là không chỉ trả lại những thiệt hại “hữu hình” có thể kiểm đếm đƣợc mà còn phải tính toán bù đắp lại cả những giá trị không thể đo đếm đƣợc nhƣ là môi trƣờng sống của cả cộng đồng, điều kiện học tập, các dịch vụ, tiện ích sinh hoạt, v.
; kèm theo đó là một cơ chế giải quyết những bất đồng giữa bên gây ra thiệt hại (Nhà nƣớc) với bên bị thiệt hại (ngƣời bị thu hồi đất) hƣớng tới sự khách quan, công bằng hơn thông qua cơ chế giải quyết khiếu nại, khắc phục tình trạng các cơ quan nhà nƣớc giành quyền áp đặt mức đền bù thiệt hại, không chú ý đến lợi ích chính đáng của ngƣời dân. Theo Bộ luật Dân sự thì bồi thường là việc đền bù những thiệt hại về vật chất, về tinh thần mà mình gây ra cho ngƣời khác, thiệt hại phải đƣợc bồi thƣờng toàn bộ và kịp thời; các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thƣờng, hình thức bồi thƣờng bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phƣơng thức bồi thƣờng một lần hoặc nhiều lần; khi mức bồi thƣờng không còn phù hợp với thực tế 9 thì ngƣời bị thiệt hại hoặc ngƣời gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ a quan nhà nƣớc có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thƣờng (Quốc hội, 2005 ). Nhƣ vậy, có thể đƣa ra nhận xét là khi chuyển từ thuật ngữ “đền bù thiệt hại” sang thuật ngữ “bồi thƣờng” khi Nhà nƣớc thu hồi đất đã thể hiện tƣ tƣởng chỉ đạo trong xây dựng Luật đó là việc bồi thƣờng cần phải đổi mới để việc tính toán mức độ thiệt hại một cách khách quan, tôn trọng ý kiến của ngƣời bị thiệt hại và bồi thƣờng một cách sòng phẳng nhƣ khi thực hiện bồi thƣờng thiệt hại theo pháp luật dân sự, tuy nhiên, thực tế triển khai vẫn còn một khoảng cách khá xa so với tƣ tƣởng chỉ đạo này mà một trong những nguyên nhân của nó nằm ở ngay chính sự khác biệt giữa cơ chế bồi thƣờng theo pháp luật đất đai với bồi thƣờng theo pháp luật dân sự, cụ thể nhƣ sau: - Trong Luật đất đai, việc thƣơng thảo về mức độ thiệt hại và giá trị bồi thƣờng diễn ra một chiều theo hƣớng áp đặt ý kiến chủ quan của Nhà nƣớc đối với ngƣời bị thiệt hại, dễ dẫn đến sự thiếu bình đẳng trong mối quan hệ này, trong khi đó, bồi thƣờng theo pháp luật dân sự, mối quan hệ giữa bên gây ra thiệt hại và bên bị thiệt hại là quan hệ bình đẳng, dựa trên sự đồng thuận của cả hai bên. - Trong Luật đất đai, Nhà nƣớc tham gia quan hệ bồi thƣờng với tƣ cách là bên gây ra thiệt hại, đồng thời Nhà nƣớc lại đóng vai trò là trung gian hòa giải thông qua hoạt động giải quyết khiếu nại của tổ chức, cá nhân, đo đó tính khách quan trong quá trình giải quyết khiếu nại rất dễ bị vi phạm, Điều này khác với bồi thƣờng trong pháp luật dân sự, khi đó Nhà nƣớc chỉ đóng vai trò trung gian hòa giải giữa bên gây ra thiệt hại và bên bị thiệt hại nên các phán quyết của Nhà nƣớc đƣa ra có tính khách quan hơn.
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nƣớc giúp đỡ ngƣời bị thu hồi đất thông qua các khoản hỗ trợ bao gồm: Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cƣ đối với trƣờng hợp thu hồi đất ở; Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trƣờng hợp thu hồi đất nông nghiệp; Hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cƣ; đất vƣờn, ao không đƣợc công nhận là đất ở; hỗ trợ khác. Các khoản hỗ trợ này đƣợc hiểu là phần cho thêm của Nhà nƣớc sau khi đã bồi thƣờng sòng phẳng và là khoản điều tiết từ phần giá trị gia tăng từ đất đai mà a không phải là do đầu tƣ của ngƣời sử dụng đất mang lại (Quốc hội, 2003 ; Chính 10 c b phủ, 2004 , 2007 , 2009). Nhƣ vậy, khác với bồi thường là việc trả lại một các tƣơng xứng những giá trị bị thiệt hại, thì hỗ trợ mang tính chính sách, trợ giúp thêm của Nhà nƣớc, thể hiện trách nhiệm của Nhà nƣớc đối với sự hi sinh, mất mát của ngƣời bị thu hồi đất cho những lợi ích chung của đất nƣớc, của cộng đồng. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, do việc bồi thƣờng chƣa thực sự sòng phẳng nên các khoản hỗ trợ chƣa thực sự đúng với ý nghĩa mà nó đƣợc định nghĩa trong Luật đất đai và trong đa số trƣờng hợp thì nó chỉ là sự bù đắp vào khoảng thiếu hụt do việc bồi thƣờng thiếu sòng phẳng gây ra; bên cạnh đó một số khoản hỗ trợ thực chất là bồi thƣờng nhƣ là hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm vì đây chính là những thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra.
Tái định cư Tái định cư là việc Nhà nƣớc bố trí đất ở, nhà ở tại nơi mới cho những ngƣời bị Nhà nƣớc thu hồi đất ở mà họ không còn chỗ ở nào khác (Asian Development Bank, 1998). Việc thu hồi đất ở thông qua một quyết định hành chính là một quá trình không tự nguyện, có tính cƣỡng chế và đòi hỏi có sự “hy sinh” của ngƣời sử dụng đất, do đó, không chỉ đơn thuần là sự đền bù về mặt vật chất (có đất ở, nhà ở) mà còn phải đảm bảo lợi ích của ngƣời bị thu hồi đất, họ phải có đƣợc chỗ ở ổn định, điều kiện sống a c b bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ (Quốc hội, 2003 ; Chính phủ, 2004 , 2007 , 2009). Nhƣ vậy, nếu việc bồi thƣờng thiên về mức độ tƣơng xứng thì tái định cƣ thiên về chính sách tạo lập chỗ ở. Trong quy định của Luật đất đai năm 2003 có sự giao thoa giữa hai khái niệm này, theo đó các khu tái định cƣ đƣợc xây dựng để bồi thƣờng bằng nhà ở, đất ở cho ngƣời bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở.
Giá đất Giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nƣớc quy định hoặc đƣợc hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất. Có những phƣơng pháp xác định giá đất phổ biến trên thế giới và đã đƣợc áp dụng tại Việt Nam là: phƣơng pháp so sánh trực tiếp; phƣơng pháp thu nhập; phƣơng pháp chiết trừ và phƣơng pháp thặng dƣ.