Luận án tiến sĩ đổi mới kinh tế hợp tác xã trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở thành phố hồ chí minh từ 1986 đến 2015

Luận án tiến sĩ phân tích đổi mới kinh tế hợp tác xã tại TP Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015, góp phần vào phát triển kinh tế thị trường.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2021

253
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ĐẠNG

DANH MỤC CÁC BIỂU TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

1.2.1. Mục đích nghiên cứu

1.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở lý luận

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp lịch sử

2.2.2. Phương pháp logic

2.2.3. Các phương pháp khác

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về đổi mới kinh tế hợp tác xã tại TP

Đổi mới kinh tế hợp tác xã tại TP.HCM từ năm 1986 đến 2015 đã diễn ra trong bối cảnh chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam. Hợp tác xã (HTX) đã trở thành một phần quan trọng trong cơ cấu kinh tế, góp phần tạo ra thu nhập ổn định cho người lao động và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Sự chuyển đổi từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho các HTX. Việc nghiên cứu thực trạng và triển vọng của HTX trong giai đoạn này là cần thiết để hiểu rõ hơn về vai trò của chúng trong nền kinh tế hiện đại.

1.1. Khái niệm và vai trò của kinh tế hợp tác xã

Kinh tế hợp tác xã là một hình thức tổ chức kinh tế tập thể, nơi mà các thành viên cùng nhau hợp tác để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. HTX không chỉ giúp tăng cường sức mạnh kinh tế cho các thành viên mà còn đóng góp vào sự phát triển bền vững của cộng đồng. Vai trò của HTX trong việc tạo ra việc làm và cải thiện đời sống cho người dân là rất quan trọng.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của HTX tại TP.HCM

HTX tại TP.HCM đã có một lịch sử dài, bắt đầu từ những năm đầu sau thống nhất đất nước. Tuy nhiên, từ năm 1986, khi chính sách đổi mới được thực hiện, HTX đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Sự ra đời của Luật Hợp tác xã năm 1996 đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các HTX kiểu mới.

II. Thực trạng kinh tế hợp tác xã tại TP

Giai đoạn 1986-2002 là thời kỳ đầy thách thức cho các HTX tại TP.HCM. Nhiều HTX gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động do thiếu vốn và chính sách hỗ trợ chưa đủ mạnh. Tuy nhiên, một số HTX đã tìm ra hướng đi mới, áp dụng các mô hình sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn. Sự chuyển mình này đã tạo ra những tiền đề quan trọng cho sự phát triển của HTX trong giai đoạn tiếp theo.

2.1. Những khó khăn và thách thức trong giai đoạn đầu đổi mới

Trong giai đoạn này, các HTX phải đối mặt với nhiều khó khăn như thiếu vốn, thiếu nguyên liệu và sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp tư nhân. Điều này đã dẫn đến sự suy giảm về số lượng và chất lượng của các HTX.

2.2. Những mô hình HTX kiểu mới xuất hiện

Một số HTX đã áp dụng mô hình sản xuất mới, kết hợp giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, giúp tăng cường hiệu quả kinh tế. Những HTX này đã trở thành hình mẫu cho sự phát triển của các HTX khác trong thành phố.

III. Đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác xã tại TP

Giai đoạn 2002-2015 đánh dấu sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ của kinh tế HTX tại TP.HCM. Sự ra đời của Nghị quyết 13-NQ/TW đã tạo động lực cho các HTX phát triển. Nhiều HTX đã chuyển mình thành những đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ và có khả năng cạnh tranh cao hơn. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của thành phố.

3.1. Sự ra đời của Nghị quyết 13 NQ TW và tác động đến HTX

Nghị quyết 13-NQ/TW đã tạo ra một khung pháp lý vững chắc cho sự phát triển của HTX. Các chính sách hỗ trợ từ Nhà nước đã giúp các HTX có thêm nguồn lực để đầu tư và mở rộng hoạt động.

3.2. Các mô hình HTX kiểu mới và hiệu quả kinh tế

Nhiều HTX kiểu mới đã xuất hiện với các mô hình sản xuất kinh doanh đa dạng, từ nông nghiệp đến dịch vụ. Những mô hình này không chỉ giúp tăng thu nhập cho thành viên mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế địa phương.

IV. Những thách thức và bài học kinh nghiệm trong phát triển HTX

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng kinh tế HTX tại TP.HCM vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Việc duy trì sự gắn bó của các thành viên, nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường là những vấn đề cần được giải quyết. Những bài học kinh nghiệm từ các HTX thành công có thể giúp các HTX khác cải thiện hoạt động và phát triển bền vững.

4.1. Những thách thức trong việc duy trì hoạt động của HTX

Nhiều HTX gặp khó khăn trong việc duy trì sự gắn bó của các thành viên do thiếu lợi ích rõ ràng. Việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ cũng là một thách thức lớn.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ các HTX thành công

Các HTX thành công đã biết cách tạo ra giá trị cho thành viên thông qua việc cải tiến quy trình sản xuất và mở rộng thị trường. Họ cũng chú trọng đến việc đào tạo và nâng cao năng lực cho thành viên.

V. Triển vọng phát triển kinh tế hợp tác xã tại TP

Triển vọng phát triển kinh tế HTX tại TP.HCM trong tương lai là rất khả quan. Với sự hỗ trợ từ chính sách của Nhà nước và nhu cầu ngày càng cao của thị trường, các HTX có thể phát triển mạnh mẽ hơn. Việc áp dụng công nghệ mới và cải tiến quy trình sản xuất sẽ giúp các HTX nâng cao hiệu quả kinh tế và cạnh tranh hơn.

5.1. Cơ hội từ chính sách hỗ trợ của Nhà nước

Chính phủ đang có nhiều chính sách hỗ trợ cho HTX, từ việc cung cấp vốn đến đào tạo nguồn nhân lực. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các HTX trong tương lai.

5.2. Xu hướng phát triển bền vững và ứng dụng công nghệ

Các HTX cần chú trọng đến phát triển bền vững và ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sản phẩm.

VI. Kết luận về đổi mới kinh tế hợp tác xã tại TP

Đổi mới kinh tế hợp tác xã tại TP.HCM từ năm 1986 đến 2015 đã tạo ra những thay đổi tích cực trong cơ cấu kinh tế. HTX đã chứng minh được vai trò quan trọng của mình trong việc phát triển kinh tế địa phương và nâng cao đời sống cho người dân. Những bài học kinh nghiệm từ quá trình này sẽ là nền tảng cho sự phát triển bền vững của HTX trong tương lai.

6.1. Tóm tắt những thành tựu đạt được

Trong suốt quá trình đổi mới, HTX đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, từ việc tăng cường hiệu quả kinh tế đến việc cải thiện đời sống cho thành viên.

6.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Định hướng phát triển của HTX trong tương lai cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường và ứng dụng công nghệ mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

18/07/2025
Luận án tiến sĩ đổi mới kinh tế hợp tác xã trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở thành phố hồ chí minh từ 1986 đến 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Chương 2. Giai đoạn đầu đổi mới kinh tế hợp tác xã ở Thành Phố Hồ Chí Minh (1986-2002). Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác xã ở Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2002-2015.

Nhận xét, đánh giá quá trình đổi mới kinh tế hợp tác xã ở Thành phố Hồ Chí Minh từ 1986 đến 2015. 11 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ề TÀI * 1. Một số khái niệm có liên quan đến kinh tế hợp tác xã Cơ chế kinh tế là một phương thức điều hành và định hướng phát triển nền kinh tế của Nhà nước, nó tác động sâu sắc, trực tiếp tới sự vận động của nền kinh tế quốc dân (Vũ Văn Hiến và Đinh Xuân Lý, 2004). Ở Việt Nam, khi công cuộc đổi mới diễn ra, thì việc xây dựng một cơ chế quản lý phù hợp với lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ là yêu cầu cấp bách.

Bắt đầu từ Đại hội VI (1986), vấn đề về kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước đã được đặt ra và chính thức ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 và trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Từ cơ chế kinh tế cũ - cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp trước đây với hai thành phần kinh tế là kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể (kinh tế tư bản, tư nhân không được thừa nhận), đến nay, trong nền kinh tế Việt nam đã có nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển với những hình thức sở hữu khác nhau, trong đó, đáng chú ý là sự hiện diện của thành phần tư bản nước ngoài đang đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Nhà nước Việt Nam khuyến khích và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật, chính sách để các thành phần kinh tế cùng có cơ hội phát triển trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh. Khái niệm kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa được chính thức sử dụng trong các văn kiện Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001); theo đó, “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001, tr.

Đại hội XII của Đảng (tháng 1-2016) tiếp tục bổ sung, phát triển: “Nền kinh 12 tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr. Trên thế giới, hợp tác xã được Liên minh Hợp tác xã quốc tế định nghĩa như sau: “Hợp tác xã là một hiệp hội dân chủ do các cá nhân tự nguyện liên kết với nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua việc hình thành doanh nghiệp do tập thể xã viên đồng sở hữu và quản lý dân chủ” (Nguyễn Minh Ngọc và những người khác, 2012). Ở Việt Nam, khái niệm HTX được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đề cập: “Hợp tác xã là góp gạo thổi cơm chung, cho khỏi hao của tốn công, lại có nhiều phần vui vẻ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.

Năm 1946, Trong thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam ngày 11/4/1946, Người viết: “Hợp tác xã là hợp vốn, hợp sức với nhau. Vốn nhiều, sức mạnh thì khó nhọc ít mà lợi ích nhiều” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. Khái niệm HTX ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện và phù hợp với xu thế phát triển của HTX trên thế giới. Điều này thể hiện trong việc các khái niệm HTX được hoàn chỉnh thông qua việc sửa đổi, bổ sung ở Luật Hợp tác xã năm 1996, 2003 và 2012.

Luật Hợp tác xã năm 1996 xác định: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản 13 xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 1996). Luật Hợp tác xã năm 2003 đã kế thừa những nội hàm cơ bản khái niệm HTX năm 1996 và khẳng định HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra để phát huy sức mạnh tập thể của từng thành vi ên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2003). Luật Hợp tác xã năm 2012 một lần nữa sửa đổi và hoàn chỉnh hơn định nghĩa về khái niệm HTX: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2012).

Khái niệm Liên hiệp HTX đã được định nghĩa trong các văn bản pháp luật của Việt Nam qua các giai đoạn khác nhau, trong đó, gần đây nhất, Luật Hợp tác xã năm 2012 xác định: “Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của hợp tác xã thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý liên hiệp hợp tác xã” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2012). 14 Hợp tác xã kiểu mới là những HTX được thành lập từ sau năm 1986 hoặc là những HTX được thành lập từ trước năm 1986 nhưng được chuyển đổi hoạt động kinh doanh theo Luật Hợp tác xã phù hợp với từng giai đoạn. Hoạt động của HTX kiểu mới đảm bảo các nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thành lập và quá trình sản xuất, kinh doanh của HTX. Trong HTX kiểu mới, kinh tế hộ gia đình được tôn trọng, không bị “thui chột, mất động lực”, thậm chí còn gia tăng giá trị kinh tế của hộ gia đình (Nguyễn Cao, 2017).

Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 1. Nhóm nghiên cứu về kinh tế thị trường và quá trình đổi mới kinh tế hợp tác xã ở Việt Nam Về kinh tế thị trường và quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau. Theo đó cho thấy, đổi mới là một tất yếu trong quá trình phát triển ở Việt Nam. Trong đó, tác giả Vũ Trọng Khải (2002), đã phân tích và chỉ ra nhiều bất cập của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp cũng như sự cần thiết phải đổi mới, tính ưu việt của đổi mới thông qua phân tích sự phát triển kinh tế nông nghiệp.

Tác giả phân tích rất chi tiết về mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, trong đó nổi bật là phân tích, đánh giá chính sách của Nhà nước đối với sự phát triển của cây lương thực, cây công nghiệp trong HTX nông nghiệp như: thu mua, phân phối và quản lý thị trường nông sản. Tác giả cũng đã đặt ra vấn đề cơ giới hóa trong nông nghiệp rất có ý nghĩa đối với việc nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp và các biện pháp cơ bản để nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp. Tuy nhiên, việc thực hiện cơ giới hóa còn gặp nhiều khó khăn như: Tình trạng diện tích đất canh tác với nhiều loại khác nhau; Máy móc nhập từ nước ngoài nên không chủ động được và chưa phù hợp với điều kiện đất canh tác của Việt Nam; Sự phát triển của nông nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào 15 ngân sách của Nhà nước, chưa có sự chủ động về vốn; Ngành công nghiệp trong nước có trình độ còn thấp, chất lượng các phương tiện sản xuất trong nước để phục vụ cho nông nghiệp còn kém, giá thành lại quá cao… Từ những khó khăn đó, tác giả đã đưa ra các biện pháp để phát triển tốt hơn ngành nông nghiệp. Tác giả đã phân tích mô hình HTX Mỹ Thọ, như một minh chứng cho sự hiện thực hóa của chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp trên một số phương diện như: tổ chức sản xuất, tổ chức bộ máy quản lý, chế độ quản lý tài chính… Vũ Trọng Khải (2002 cũng đã phân tích để thấy được tư duy đổi mới của Đảng về phát triển ngành nông nghiệp trong kinh tế thị trường.

Cơ chế kinh tế mới cũng chưa hoàn thiện, còn có bất cập như: sự tác động của cơ chế quản lý kế hoạch tập trung bao cấp, chưa có thị trường theo đúng nghĩa, chưa có hệ thống pháp luật đầy đủ, có nhiều thành phần kinh tế nhưng còn thiếu bình đẳng. Đặc biệt, tác giả đã có những đánh giá đối với HTX nông nghiệp trong cơ chế kinh tế thị trường với những đặc điểm của nền sản xuất hàng hóa nhỏ ở Nam bộ nhưng đã tiến bộ hơn những vùng khác so với cả nước. Đây là thực trạng kinh tế ở Nam bộ trước khi tiến hành công tác xã hội hóa về sản xuất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ