Tổng quan luận án

Vấn đề kinh tế tập thể, mà trọng tâm là kinh tế hợp tác xã (HTX), giữ vị trí xác định trong đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kết hợp cùng kinh tế tập thể từng bước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, trước năm 1986, thực tiễn phát triển HTX tại Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Trong giai đoạn 10 năm đầu sau ngày thống nhất đất nước (1975-1985), phong trào hợp tác hóa được triển khai sâu rộng về số lượng và thu hút số lượng lớn nông dân, người lao động tham gia, song hiệu quả kinh tế - xã hội đạt được ở mức thấp. Hoạt động của các cơ sở hợp tác bị chi phối nặng nề bởi cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, biến HTX thành những đơn vị mang nặng tính hành chính, triệt tiêu động lực lao động, khiến thu nhập và đời sống của xã viên gặp nhiều khó khăn, mối liên hệ gắn kết giữa xã viên và đơn vị ngày càng suy giảm.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ yêu cầu hệ thống hóa một cách toàn diện quá trình chuyển đổi của kinh tế HTX dưới góc độ lịch sử tại Thành phố Hồ Chí Minh — trung tâm kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật lớn của cả nước. Dù đã có những công trình đề cập đến kinh tế tập thể nói chung hoặc từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố, việc làm rõ tiến trình đổi mới HTX từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, phân tích các bước thăng trầm, sự thay đổi thể chế quản lý và hoạt động thực tiễn trong 30 năm (1986-2015) trên địa bàn đô thị này vẫn chưa được một công trình lịch sử chuyên biệt nào khảo sát đầy đủ.

Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu quá trình đổi mới, phát triển của kinh tế HTX trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Thành phố Hồ Chí Minh nhằm:

  • Khẳng định kinh tế hợp tác là tất yếu khách quan, là thành phần kinh tế cơ bản, truyền thống ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung.
  • Làm rõ vị trí, vai trò của HTX trong bối cảnh một đô thị công nghiệp, thương mại và dịch vụ lớn.
  • Góp phần cung cấp cơ sở khoa học để phục vụ việc bổ sung, hoàn chỉnh các chủ trương, chính sách đối với sự phát triển của kinh tế tập thể, trọng tâm là HTX.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được đánh số cụ thể như sau:

  1. Nghiên cứu quá trình đổi mới kinh tế HTX ở Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1986-2002. Đây là giai đoạn kinh tế HTX tại Thành phố trải qua nhiều biến động, có sự suy giảm về số lượng lẫn chất lượng, người dân suy giảm niềm tin vào mô hình HTX kiểu cũ, sau đó từng bước ổn định từ khi có Luật Hợp tác xã năm 1996.
  2. Nghiên cứu quá trình tiếp tục đổi mới của kinh tế HTX ở Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2002-2015. Đây là giai đoạn phục hồi và phát triển rõ nét sau khi có Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18/3/2002 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể.
  3. Nhận xét, đánh giá quá trình đổi mới kinh tế HTX ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2015 và rút ra những bài học kinh nghiệm cho sự phát triển của kinh tế HTX trong thời gian tiếp theo tại Thành phố và các địa phương có điều kiện tương đồng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình đổi mới kinh tế HTX trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2015, tập trung vào: việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và chính quyền các cấp; sự hình thành và phát triển của các HTX kiểu mới; sự chuyển đổi cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1986 đến năm 2015, được phân chia thành 2 giai đoạn:
    • Giai đoạn 1986-2002: Quá trình điều chỉnh, sàng lọc và bước đầu hình thành các HTX kiểu mới, tính từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đến trước khi triển khai Nghị quyết số 13-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (2002).
    • Giai đoạn 2002-2015: Quá trình tiếp tục đổi mới và mở rộng kinh tế HTX trong cơ chế thị trường, gắn với việc thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW năm 2002, Luật Hợp tác xã năm 2003, Luật Hợp tác xã năm 2012 và mốc tổng kết 30 năm đổi mới của đất nước năm 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong văn bản luận án được chia tách thành ba nhóm công trình:

Nhóm thứ nhất bao gồm các nghiên cứu về kinh tế thị trường và quá trình đổi mới kinh tế HTX ở Việt Nam. Tác giả Vũ Trọng Khải (2002) chỉ rõ các bất cập nội tại của mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp trong nông nghiệp, phân tích thực trạng chính sách quản lý nông sản, rào cản cơ giới hóa và lấy mô hình HTX Mỹ Thọ làm dẫn chứng để khẳng định HTX phải là tổ chức kinh tế hàng hóa dựa trên cơ sở thừa nhận sở hữu riêng của hộ gia đình trước khi xây dựng sở hữu chung. Tác giả Đặng Phong (2015) phác họa tiến trình kinh tế Việt Nam giai đoạn 1975-1989 qua ba chặng: chặng 1975-1979 áp dụng mô hình miền Bắc cho miền Nam; chặng 1979-1986 với những chuyển biến thực tế từ hiện tượng "phá rào", sự ra đời của Chỉ thị 100, Nghị quyết Trung ương 6 khóa IV, Hội nghị Trung ương 3 khóa V năm 1982 cho đến cuộc điều chỉnh giá - lương - tiền năm 1985; chặng 1986-1989 ghi nhận việc giảm lạm phát, xóa bỏ tem phiếu và bắt đầu xuất khẩu gạo. Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng (Đại hội IX năm 2001, Đại hội XI năm 2011, Đại hội XII năm 2016 và báo cáo năm 2015) ghi nhận quá trình phát triển nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chế độ nhiều hình thức sở hữu. Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (2016-a, 2016) phân tích bước ngoặt pháp lý của Luật Hợp tác xã năm 1996 và Nghị quyết 13-NQ/TW năm 2002, chỉ rõ các hạn chế về quy mô vốn, tốc độ tăng trưởng và bài học về tôn trọng lợi ích thành viên. Nguyễn Minh Ngọc và cộng sự (2012) khảo sát vai trò xã hội của HTX thông qua mô hình an sinh xã hội 5 tầng: bảo đảm mức sống tối thiểu (thu nhập bình quân xã viên 821 nghìn đồng/tháng, đóng góp 38,51% tổng thu nhập gia đình; trên 50% đối với gia đình không có sinh kế khác; vai trò của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân), thị trường lao động (tạo gần 45% việc làm cho hộ xã viên), chính sách bảo hiểm (58% xã viên được khuyến khích, hỗ trợ tham gia), chính sách ưu đãi xã hội (trên 31% xã viên được hưởng ưu đãi) và trợ giúp xã hội (50% nhận trợ cấp đột xuất, 12% nhận trợ cấp thường xuyên). Nguyễn Văn Giàu (2015) phân tích Luật Hợp tác xã năm 2012 và đề xuất 7 giải pháp phát triển bền vững. Nguyễn Minh Tú (2011) khảo sát bối cảnh 1986-2006, chỉ rõ xu hướng HTX dịch vụ phục vụ xã viên. Các tác giả khác như Lương Xuân Quỳ (1999) nghiên cứu mô hình tổ chức quản lý nông thôn; Phan Huy Đường (2009) hệ thống 7 vai trò của HTX trong tiêu thụ nông sản; Phạm Tất Thắng (2017) nêu 7 vấn đề của HTX từ 1955 đến 2017; Hồ Văn Vĩnh (2005) bàn về phương thức chuyển đổi HTX nông nghiệp gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (2017) giới thiệu 50 mô hình HTX điển hình giai đoạn 2014-2016.

Nhóm thứ hai gồm các nghiên cứu về kinh tế và đổi mới kinh tế HTX tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các công trình lịch sử tổng quan của Đoàn Thanh Hương và Hồ Hữu Nhựt (1698-1998), sách chuyên khảo 30 năm (1975-2005) và 40 năm xây dựng, phát triển, hội nhập của Thành phố phản ánh bức tranh phát triển đô thị từ mốc Bến Nghé năm 1698. Tác giả Nguyễn Văn Linh (1985) đánh giá 10 năm đầu sau ngày thống nhất đất nước, chia mặt trận phân phối lưu thông thành 3 giai đoạn: 1975-1978 cải tạo tư sản thương nghiệp, 1979-1981 xáo trộn do buông lỏng quản lý, 1982-1984 lập lại trật tự phân phối. Đỗ Hoài Nam và cộng sự (2014) khảo sát các cơ sở năng động tìm kiếm lối đi thực tế như Nhà máy dệt Thành Công, Công ty xe khách Miền Đông, Công ty Lương thực Thành phố Hồ Chí Minh. Thành ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh (2015) thống kê GDP Thành phố giai đoạn 1976-1985 chỉ tăng 2,7%/năm, giai đoạn 1991-2010 luôn tăng trưởng ở mức hai con số, giai đoạn 2011-2015 tăng xấp xỉ 10%/năm (gấp 1,6 lần mức bình quân cả nước); GDP bình quân đầu người tăng từ khoảng 700 USD năm 1995 lên hơn 5.000 USD năm 2014. Các bài viết của Lê Hoàng Quân (2010), Vũ Văn Phúc (2015), Phùng Bảo Ngọc (2016), Lê Thị Mỹ Hà (2016) nghiên cứu cơ cấu thành phần kinh tế và tổ chức xã hội nông thôn. Đối với lĩnh vực kinh tế HTX, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2017) tổng kết thực trạng hoạt động theo Luật Hợp tác xã năm 2012; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố Hồ Chí Minh (2017) khảo sát 5 huyện ngoại thành gồm Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ; Trần Minh Tâm (2005) nghiên cứu mô hình HTX liên phường 1 và 3 Quận 3, Liên hiệp HTX thương mại Thành phố (Saigon Co.op); Sở Công thương Thành phố Hồ Chí Minh (2017) đánh giá doanh thu HTX thương mại tăng bình quân 15-25%/năm; Lưu Thị Kim Hoa (2017) phân tích vai trò liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.

Nhóm thứ ba điểm lại các nghiên cứu của tác giả quốc tế. Về mặt lý thuyết nguồn gốc, tác giả nhắc đến tư tưởng chủ nghĩa xã hội không tưởng của Robert Owen (các tác phẩm năm 1814, 1844, 1849) về công xã tự quản, xóa bỏ chế độ tư hữu; Charles Fourier (các công trình năm 1808, 1822, 1829) với học thuyết về các phalanges kết hợp công - nông nghiệp tự nguyện. Về thực tiễn Việt Nam, nghiên cứu của Viện Phát triển Quốc tế Harvard thuộc Đại học Harvard (1994) xác định tiến trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam khởi động từ cuối thập niên 1970 và bước vào giai đoạn then chốt từ năm 1989 đến đầu năm 1992 nhờ kiềm chế siêu lạm phát. Nhà nghiên cứu Kerkvliet Ben (1998) phân tích 5 nấc thang hợp tác hóa nông nghiệp tại miền Bắc giai đoạn 1955-1956 (tổ đổi công, tổ đổi công thường xuyên, tổ đổi công bình công chấm điểm, HTX bậc thấp, HTX bậc cao) và chỉ ra các tồn tại trong báo cáo thành tích, hiện tượng "đánh trống, ghi tên", dẫn chứng tại xã Mỹ Đức (tỉnh Hà Đông cũ) năm 1959 khi xã viên chỉ làm việc trung bình 92 ngày/năm cho HTX.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các nghiên cứu trước đã đề cập đến kinh tế tập thể ở tầm vĩ mô hoặc các khía cạnh kỹ thuật, quản trị đơn lẻ, vẫn thiếu vắng công trình nghiên cứu lịch sử làm rõ quá trình đổi mới kinh tế HTX trong sự phát triển kinh tế thị trường tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách phục dựng có hệ thống diễn trình lịch sử, phân tích mối quan hệ giữa chủ trương chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố với việc giải quyết các khó khăn thực tiễn trong từng giai đoạn 1986-2002 và 2002-2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã, đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật của Nhà nước. Về mặt tư tưởng, luận án viện dẫn định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm "Đường Kách mệnh" (1927): "Hợp tác xã là góp gạo thổi cơm chung, cho khỏi hao của tốn công, lại có nhiều phần vui vẻ", cùng nội dung thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam ngày 11/4/1946: "Hợp tác xã là hợp vốn, hợp sức với nhau. Vốn nhiều, sức mạnh thì khó nhọc ít mà lợi ích nhiều".

Các khái niệm cơ bản được luận án sử dụng:

  • Cơ chế kinh tế: Được tiếp cận theo định nghĩa của Vũ Văn Hiến và Đinh Xuân Lý (2004) là phương thức điều hành và định hướng phát triển nền kinh tế của Nhà nước.
  • Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Tiếp cận theo quan điểm tại Văn kiện Đại hội IX (2001) và Đại hội XII (2016) của Đảng.
  • Khái niệm HTX: Tiếp cận theo định nghĩa của Liên minh Hợp tác xã quốc tế (ICA) và các văn bản luật thực định của Việt Nam gồm Luật Hợp tác xã năm 1996, Luật Hợp tác xã năm 2003 và Luật Hợp tác xã năm 2012 (quy định HTX có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập).
  • Liên hiệp hợp tác xã: Xác định theo Luật Hợp tác xã năm 2012 là tổ chức do ít nhất 04 HTX tự nguyện thành lập.
  • Hợp tác xã kiểu mới: Luận án sử dụng khái niệm của Nguyễn Cao (2017), chỉ các HTX thành lập từ sau năm 1986 hoặc được chuyển đổi hoạt động theo Luật Hợp tác xã qua các thời kỳ, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tôn trọng, nâng cao giá trị kinh tế hộ gia đình.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp lịch sử: Theo dõi diễn trình đổi mới và phát triển của kinh tế HTX từ năm 1986 đến năm 2015 theo trình tự thời gian, chia tách thành hai giai đoạn 1986-2002 (giai đoạn biến động, suy giảm và bước đầu lập lại trật tự theo Luật HTX 1996) và giai đoạn 2002-2015 (giai đoạn phục hồi, chuyển đổi toàn diện theo tinh thần Nghị quyết số 13-NQ/TW và các đạo luật sửa đổi).
  • Phương pháp logic: Nghiên cứu bản chất, khuynh hướng vận động khách quan của kinh tế HTX tại Thành phố Hồ Chí Minh, phân tích mối quan hệ nhân quả giữa đường lối chuyển đổi cơ chế quản lý với sự chuyển biến mô hình tổ chức thực tế.
  • Phương pháp chuyên gia: Gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý kinh tế tập thể và lãnh đạo các HTX tại Thành phố.
  • Phương pháp thực địa: Tiếp cận và thu thập tư liệu thực tế tại các đơn vị cơ sở gồm: HTX Môi trường Liên Minh, HTX Vận tải 19/5, HTX Làng nghề bánh tráng Phú Hòa Đông, HTX Nông nghiệp Phú Lộc.
  • Phương pháp thống kê: Sử dụng số liệu, bảng biểu từ các cơ quan quản lý để lượng hóa quá trình phát triển của HTX về số lượng, nguồn vốn, cơ cấu ngành nghề.
  • Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Đánh giá quá trình đổi mới giữa các mốc thời gian, kết hợp so sánh đối chiếu với một số địa phương trong vùng Đông Nam Bộ như Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu.

Nguồn tài liệu: Báo cáo thực tế của các HTX trên địa bàn; Báo cáo của Liên minh Hợp tác xã Thành phố Hồ Chí Minh; Nghị quyết, chỉ thị, báo cáo của Trung ương Đảng, Chính phủ, Thành ủy, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Báo cáo tình hình kinh tế tập thể các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu; Sách chuyên khảo, bài báo khoa học và kỷ yếu hội thảo chuyên ngành; Số liệu từ Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba nhóm công trình: nhóm về kinh tế thị trường và đổi mới HTX tại Việt Nam, nhóm về sự phát triển kinh tế và HTX tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhóm các tác giả quốc tế. Tác giả phân tích các khái niệm nền tảng: cơ chế kinh tế, bản chất HTX theo các công ước quốc tế và quy định tại Luật Hợp tác xã các năm 1996, 2003, 2012, khái niệm liên hiệp HTX và tiêu chí nhận diện HTX kiểu mới. Chương này khẳng định khoảng trống lịch sử trong việc nghiên cứu sự chuyển dịch của kinh tế HTX trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1986-2015, từ đó xác lập tính cần thiết của đề tài.

Chương 2: Giai đoạn đầu đổi mới kinh tế hợp tác xã ở Thành phố Hồ Chí Minh (1986-2002)

Chương 2 tập trung phân tích bối cảnh lịch sử và bước chuyển trong nhận thức, chính sách đối với kinh tế HTX tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2002:

  • Thực trạng trước đổi mới: Kinh tế HTX tại Thành phố rơi vào khủng hoảng sâu sắc do duy trì cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp. Các cơ sở hợp tác phụ thuộc vào chỉ tiêu nhà nước, thiếu vốn, thiếu nguyên liệu, phân phối bình quân cào bằng, khiến xã viên mất niềm tin và rời bỏ HTX.
  • Quá trình điều chỉnh chính sách: Từ Đại hội Đảng bộ Thành phố sau năm 1986, Thành ủy và Ủy ban Nhân dân Thành phố chủ động ban hành các chủ trương tháo gỡ rào cản hành chính, hỗ trợ ban đầu về cơ sở vật chất, xác lập tư cách pháp lý và định hướng lại ngành nghề sản xuất kinh doanh cho các HTX. Giai đoạn 1986-1996 ghi nhận việc rà soát, giải thể các HTX yếu kém, mang tính hình thức, số lượng HTX suy giảm mạnh.
  • Bước đầu hình thành HTX kiểu mới: Năm 1996, khi Luật Hợp tác xã đầu tiên được ban hành, hành lang pháp lý được thiết lập, tạo điều kiện cho các HTX tổ chức lại bộ máy quản lý. Các HTX hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ tài chính, đa dạng hóa ngành nghề sản xuất và chuyển trọng tâm hoạt động sang đáp ứng nhu cầu, lợi ích trực tiếp của thành viên.

Chương 3: Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác xã ở Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2002-2015

Chương 3 trình bày giai đoạn phục hồi và mở rộng quy mô của kinh tế HTX sau khi có Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18/3/2002 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX:

  • Hoàn thiện chủ trương: Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW, cụ thể hóa các cơ chế hỗ trợ lãi vay, mặt bằng, đào tạo nguồn nhân lực và xúc tiến thị trường. Các quy định của Luật Hợp tác xã năm 2003 và Luật Hợp tác xã năm 2012 được triển khai đồng bộ.
  • Sự gia tăng về quy mô và đổi mới tổ chức: Các HTX kiểu mới ra đời và phát triển nhanh về số lượng. Bộ máy quản lý được tinh gọn và tách biệt theo cơ chế quản trị mới, phân định chức năng giữa Hội đồng quản trị (hoặc Ban quản trị) và Ban điều hành.
  • Đa dạng hóa lĩnh vực hoạt động: HTX mở rộng hoạt động trên các địa bàn kinh tế trọng điểm, bao gồm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp ngoại thành (tại các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ), thương mại bán lẻ và dịch vụ phân phối (với điển hình là Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh - Saigon Co.op), giao thông vận tải và dịch vụ môi trường.
  • Mở rộng liên kết: Các HTX từng bước tham gia vào chuỗi giá trị nông sản và hàng hóa tiêu dùng, thiết lập mạng lưới tiêu thụ ổn định và mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức kinh tế trong nước cũng như quốc tế.

Chương 4: Nhận xét, đánh giá quá trình đổi mới kinh tế hợp tác xã ở Thành phố Hồ Chí Minh từ 1986 đến 2015

Chương 4 đúc kết các nhận định lịch sử và thực tiễn qua 30 năm đổi mới:

  • Tính tất yếu khách quan: Luận án khẳng định sự tồn tại và chuyển đổi của kinh tế HTX phù hợp với quy luật phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, là nhu cầu tự thân của người lao động nhỏ trước áp lực cạnh tranh thị trường.
  • Vai trò kinh tế - xã hội: Kinh tế HTX đóng góp vào cơ cấu kinh tế chung của đô thị, tạo việc làm thường xuyên cho lao động yếu thế, hỗ trợ nâng cao thu nhập hộ gia đình và tham gia cung ứng dịch vụ công cộng đô thị (vận tải, vệ sinh môi trường).
  • Những hạn chế nội tại: Quy mô vốn của các HTX còn rất nhỏ bé khi so sánh với các loại hình doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; tốc độ tăng trưởng còn chậm; trình độ năng lực của đội ngũ quản trị HTX còn hạn chế; việc xử lý giải thể dứt điểm các HTX ngưng hoạt động còn kéo dài; khả năng tiếp cận đất đai và vốn tín dụng ngân hàng còn nhiều vướng mắc.
  • Bài học kinh nghiệm:
    1. Phát triển HTX phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và bảo đảm lợi ích thiết thực của thành viên, kiên quyết từ bỏ can thiệp hành chính, áp đặt chỉ tiêu.
    2. Xác định rõ vị trí, bản chất của kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường, đổi mới thực chất, không chạy theo số lượng hình thức.
    3. Chú trọng đào tạo và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý HTX.
    4. Nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của cấp ủy và sự phối hợp quản lý của các sở, ban, ngành, cơ quan nhà nước.
    5. Cơ chế, chính sách hỗ trợ của Nhà nước về mặt bằng, thuế, tín dụng phải được hướng dẫn rõ ràng, dễ tiếp cận và đi vào thực chất.

Dưới đây là bảng tổng hợp các mốc văn bản pháp lý, chính sách và dữ liệu kinh tế tiêu biểu được phản ánh trong nội dung luận án:

Thời kỳ / Năm Sự kiện thể chế / Văn bản pháp lý Dữ liệu kinh tế - xã hội ghi nhận trong luận án
1976 - 1985 Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp; Chỉ thị 100-CT/TW (năm 1981); Nghị quyết Trung ương 6 khóa IV; Điều chỉnh giá - lương - tiền (1985). Tăng trưởng GDP Thành phố Hồ Chí Minh bình quân đạt 2,7%/năm; sản xuất đình đốn; quan hệ lưu thông phân phối rối loạn.
1986 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng: Khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Xuất hiện các mô hình tháo gỡ rào cản thực tiễn tại TP.HCM (Viso, Vĩnh Hội, Bia Sài Gòn, Dệt Thành Công, Dệt Thắng Lợi...).
1996 Quốc hội ban hành Luật Hợp tác xã năm 1996 (đạo luật chuyên ngành đầu tiên về HTX). Xác lập tư cách pháp lý độc lập cho HTX; bắt đầu quá trình sàng lọc, giải thể HTX cũ và chuyển sang HTX kiểu mới.
2002 Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18/3/2002 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX. Đánh dấu bước chuyển biến trong tư duy lý luận về kinh tế tập thể; ban hành Chương trình hành động của Thành ủy TP.HCM.
2003 Quốc hội ban hành Luật Hợp tác xã năm 2003. Quy định HTX hoạt động như loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, tự chủ tài chính và tự chịu trách nhiệm.
2012 Quốc hội ban hành Luật Hợp tác xã năm 2012. Chuẩn hóa định nghĩa HTX (tối thiểu 07 thành viên) và Liên hiệp HTX (tối thiểu 04 HTX thành viên); đề cao quản lý dân chủ.
1991 - 2010 Các kỳ Đại hội Đảng bộ TP.HCM và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Tăng trưởng GDP Thành phố Hồ Chí Minh luôn duy trì ở mức hai con số; GDP bình quân đầu người từ 700 USD (1995) tăng lên.
2011 - 2015 Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung 2011); Chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII. Tăng trưởng GDP Thành phố đạt xấp xỉ 10%/năm (gấp 1,6 lần cả nước); GDP bình quân đầu người vượt 5.000 USD năm 2014.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp khoa học mới do luận án tự nêu bao gồm:

  1. Góp phần phục dựng bức tranh tổng thể về quá trình đổi mới kinh tế HTX ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2015 dưới góc độ khoa học lịch sử thông qua việc nghiên cứu toàn diện sự tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan.
  2. Góp phần khẳng định sự tồn tại, phát triển của kinh tế HTX là một tất yếu khách quan ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung. Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới chứng minh kinh tế HTX đã mở rộng và thâm nhập vào các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội, thu hút đông đảo lực lượng lao động.
  3. Góp phần khẳng định việc đổi mới mô hình kinh tế HTX ngày càng phù hợp với điều kiện thực tiễn của một đô thị trung tâm. Luận án làm rõ quá trình tách HTX ra khỏi sự bao cấp hành chính để trở thành thành phần kinh tế độc lập, tự chủ trong cơ cấu kinh tế đô thị, đóng góp vào tăng trưởng và ổn định xã hội.
  4. Cung cấp luận cứ thực tiễn kiểm chứng tính đúng đắn của đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tập thể, khẳng định HTX kiểu mới là mô hình phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  5. Cung cấp nguồn tài liệu lịch sử tham khảo cho công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy và bổ sung cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế tập thể của Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương lân cận.

Các giải pháp đề xuất từ kết quả nghiên cứu:

  • Hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ của Nhà nước về mặt bằng sản xuất kinh doanh, nguồn vốn tín dụng ưu đãi, công nghệ và hỗ trợ đào tạo cán bộ quản lý HTX.
  • Thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức của Luật Hợp tác xã, tôn trọng quyền tự chủ của đơn vị cơ sở, kiên quyết xử lý và giải thể dứt điểm các đơn vị ngừng hoạt động chỉ tồn tại trên danh nghĩa.
  • Đẩy mạnh liên kết giữa HTX với kinh tế hộ gia đình, liên kết giữa các HTX với nhau và liên kết với doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng sản phẩm hàng hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định phạm vi nghiên cứu dừng lại ở mốc thời gian năm 2015, là thời điểm tổng kết 30 năm đổi mới đất nước, do đó chưa khảo sát diễn biến thực tế của phong trào HTX trong giai đoạn triển khai Nghị quyết Đại hội XII của Đảng từ năm 2016 đến nay. Ngoài ra, việc tiếp cận nguồn tài liệu lưu trữ sơ cấp tại các cơ sở HTX đã giải thể hoặc ngưng hoạt động trong giai đoạn đầu đổi mới gặp một số khó khăn về tính đồng bộ của số liệu thống kê.

Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án mở ra hướng nghiên cứu tiếp tục theo dõi sự biến đổi của mô hình HTX kiểu mới tại Thành phố Hồ Chí Minh từ sau năm 2015, đặc biệt là quá trình chuyển đổi số trong công tác quản trị HTX đô thị và việc xây dựng các chuỗi giá trị nông sản chất lượng cao kết nối Thành phố với toàn bộ vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Giá trị tham khảo

Nội dung luận án có giá trị tham khảo đối với các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Kinh tế chính trị và Quản lý kinh tế cần tài liệu nghiên cứu về quá trình vận dụng chính sách kinh tế tập thể tại địa phương đô thị.
  • Cán bộ làm công tác tham mưu chính sách, quản lý nhà nước tại Liên minh Hợp tác xã các cấp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh vùng Đông Nam Bộ.
  • Những chương có giá trị tham khảo chuyên sâu gồm: Chương 2 với các tư liệu phân tích thực trạng giải thể và chuyển đổi mô hình HTX giai đoạn 1986-2002; Chương 3 với dữ liệu thực tiễn về cơ cấu tổ chức và hoạt động đa ngành của các HTX kiểu mới sau Nghị quyết số 13-NQ/TW; Chương 4 với hệ thống các bài học kinh nghiệm về quản lý nhà nước đối với kinh tế tập thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "Hợp tác xã kiểu mới" được luận án định nghĩa trên những tiêu chí nào?
Luận án căn cứ vào khái niệm của Nguyễn Cao (2017) để xác định HTX kiểu mới là những đơn vị được thành lập từ sau năm 1986 hoặc những HTX thành lập từ trước năm 1986 nhưng đã được chuyển đổi tổ chức hoạt động theo Luật Hợp tác xã phù hợp với từng giai đoạn. Các đơn vị này vận hành dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh, tôn trọng và nâng cao giá trị của kinh tế hộ gia đình thay vì xóa bỏ kinh tế hộ.

2. Ý nghĩa của Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18/3/2002 đối với kinh tế HTX tại Thành phố Hồ Chí Minh được xác định như thế nào?
Văn bản xác định đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về kinh tế tập thể kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới năm 1986. Nghị quyết tạo bước phát triển căn bản về tư duy lý luận, khẳng định HTX là tổ chức kinh tế tự chủ, hoạt động bình đẳng, thành viên bao gồm cả thể nhân và pháp nhân không phân biệt mức vốn góp, tạo nền tảng chính trị để Thành phố Hồ Chí Minh ban hành chương trình hành động củng cố và phục hồi phong trào HTX trên địa bàn.

3. Số liệu tăng trưởng kinh tế tổng quát của Thành phố Hồ Chí Minh qua các giai đoạn đổi mới được luận án trích dẫn ra sao?
Luận án trích dẫn dữ liệu từ các văn kiện của Thành ủy và chính quyền Thành phố cho thấy: trong 10 năm trước đổi mới (1976-1985), GDP của Thành phố chỉ tăng bình quân 2,7%/năm; trong giai đoạn 1991-2010 mức tăng trưởng luôn