Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Chương 2. Giai đoạn đầu đổi mới kinh tế hợp tác xã ở Thành Phố Hồ Chí Minh (1986-2002). Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác xã ở Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2002-2015.
Nhận xét, đánh giá quá trình đổi mới kinh tế hợp tác xã ở Thành phố Hồ Chí Minh từ 1986 đến 2015. 11 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ề TÀI * 1. Một số khái niệm có liên quan đến kinh tế hợp tác xã Cơ chế kinh tế là một phương thức điều hành và định hướng phát triển nền kinh tế của Nhà nước, nó tác động sâu sắc, trực tiếp tới sự vận động của nền kinh tế quốc dân (Vũ Văn Hiến và Đinh Xuân Lý, 2004). Ở Việt Nam, khi công cuộc đổi mới diễn ra, thì việc xây dựng một cơ chế quản lý phù hợp với lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ là yêu cầu cấp bách.
Bắt đầu từ Đại hội VI (1986), vấn đề về kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước đã được đặt ra và chính thức ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 và trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Từ cơ chế kinh tế cũ - cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp trước đây với hai thành phần kinh tế là kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể (kinh tế tư bản, tư nhân không được thừa nhận), đến nay, trong nền kinh tế Việt nam đã có nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển với những hình thức sở hữu khác nhau, trong đó, đáng chú ý là sự hiện diện của thành phần tư bản nước ngoài đang đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Nhà nước Việt Nam khuyến khích và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật, chính sách để các thành phần kinh tế cùng có cơ hội phát triển trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh. Khái niệm kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa được chính thức sử dụng trong các văn kiện Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001); theo đó, “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001, tr.
Đại hội XII của Đảng (tháng 1-2016) tiếp tục bổ sung, phát triển: “Nền kinh 12 tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr. Trên thế giới, hợp tác xã được Liên minh Hợp tác xã quốc tế định nghĩa như sau: “Hợp tác xã là một hiệp hội dân chủ do các cá nhân tự nguyện liên kết với nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua việc hình thành doanh nghiệp do tập thể xã viên đồng sở hữu và quản lý dân chủ” (Nguyễn Minh Ngọc và những người khác, 2012). Ở Việt Nam, khái niệm HTX được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đề cập: “Hợp tác xã là góp gạo thổi cơm chung, cho khỏi hao của tốn công, lại có nhiều phần vui vẻ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.
Năm 1946, Trong thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam ngày 11/4/1946, Người viết: “Hợp tác xã là hợp vốn, hợp sức với nhau. Vốn nhiều, sức mạnh thì khó nhọc ít mà lợi ích nhiều” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. Khái niệm HTX ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện và phù hợp với xu thế phát triển của HTX trên thế giới. Điều này thể hiện trong việc các khái niệm HTX được hoàn chỉnh thông qua việc sửa đổi, bổ sung ở Luật Hợp tác xã năm 1996, 2003 và 2012.
Luật Hợp tác xã năm 1996 xác định: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản 13 xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 1996). Luật Hợp tác xã năm 2003 đã kế thừa những nội hàm cơ bản khái niệm HTX năm 1996 và khẳng định HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra để phát huy sức mạnh tập thể của từng thành vi ên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2003). Luật Hợp tác xã năm 2012 một lần nữa sửa đổi và hoàn chỉnh hơn định nghĩa về khái niệm HTX: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2012).
Khái niệm Liên hiệp HTX đã được định nghĩa trong các văn bản pháp luật của Việt Nam qua các giai đoạn khác nhau, trong đó, gần đây nhất, Luật Hợp tác xã năm 2012 xác định: “Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của hợp tác xã thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý liên hiệp hợp tác xã” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2012). 14 Hợp tác xã kiểu mới là những HTX được thành lập từ sau năm 1986 hoặc là những HTX được thành lập từ trước năm 1986 nhưng được chuyển đổi hoạt động kinh doanh theo Luật Hợp tác xã phù hợp với từng giai đoạn. Hoạt động của HTX kiểu mới đảm bảo các nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thành lập và quá trình sản xuất, kinh doanh của HTX. Trong HTX kiểu mới, kinh tế hộ gia đình được tôn trọng, không bị “thui chột, mất động lực”, thậm chí còn gia tăng giá trị kinh tế của hộ gia đình (Nguyễn Cao, 2017).
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 1. Nhóm nghiên cứu về kinh tế thị trường và quá trình đổi mới kinh tế hợp tác xã ở Việt Nam Về kinh tế thị trường và quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau. Theo đó cho thấy, đổi mới là một tất yếu trong quá trình phát triển ở Việt Nam. Trong đó, tác giả Vũ Trọng Khải (2002), đã phân tích và chỉ ra nhiều bất cập của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp cũng như sự cần thiết phải đổi mới, tính ưu việt của đổi mới thông qua phân tích sự phát triển kinh tế nông nghiệp.
Tác giả phân tích rất chi tiết về mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, trong đó nổi bật là phân tích, đánh giá chính sách của Nhà nước đối với sự phát triển của cây lương thực, cây công nghiệp trong HTX nông nghiệp như: thu mua, phân phối và quản lý thị trường nông sản. Tác giả cũng đã đặt ra vấn đề cơ giới hóa trong nông nghiệp rất có ý nghĩa đối với việc nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp và các biện pháp cơ bản để nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp. Tuy nhiên, việc thực hiện cơ giới hóa còn gặp nhiều khó khăn như: Tình trạng diện tích đất canh tác với nhiều loại khác nhau; Máy móc nhập từ nước ngoài nên không chủ động được và chưa phù hợp với điều kiện đất canh tác của Việt Nam; Sự phát triển của nông nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào 15 ngân sách của Nhà nước, chưa có sự chủ động về vốn; Ngành công nghiệp trong nước có trình độ còn thấp, chất lượng các phương tiện sản xuất trong nước để phục vụ cho nông nghiệp còn kém, giá thành lại quá cao… Từ những khó khăn đó, tác giả đã đưa ra các biện pháp để phát triển tốt hơn ngành nông nghiệp. Tác giả đã phân tích mô hình HTX Mỹ Thọ, như một minh chứng cho sự hiện thực hóa của chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp trên một số phương diện như: tổ chức sản xuất, tổ chức bộ máy quản lý, chế độ quản lý tài chính… Vũ Trọng Khải (2002 cũng đã phân tích để thấy được tư duy đổi mới của Đảng về phát triển ngành nông nghiệp trong kinh tế thị trường.
Cơ chế kinh tế mới cũng chưa hoàn thiện, còn có bất cập như: sự tác động của cơ chế quản lý kế hoạch tập trung bao cấp, chưa có thị trường theo đúng nghĩa, chưa có hệ thống pháp luật đầy đủ, có nhiều thành phần kinh tế nhưng còn thiếu bình đẳng. Đặc biệt, tác giả đã có những đánh giá đối với HTX nông nghiệp trong cơ chế kinh tế thị trường với những đặc điểm của nền sản xuất hàng hóa nhỏ ở Nam bộ nhưng đã tiến bộ hơn những vùng khác so với cả nước. Đây là thực trạng kinh tế ở Nam bộ trước khi tiến hành công tác xã hội hóa về sản xuất.