CHƯƠNG 1 CUỘC SỐNG ĐÔ THỊ - VẤN ĐỀ ĐƯỢC QUAN TÂM ĐẶC BIỆT TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1986 1. Khái niệm đô thị Đô thị hoá là xu thế tất yếu của mọi quốc gia trên con đường phát triển. Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, ở những mức độ khác nhau và với những sắc thái khác nhau, làn sóng đô thị hoá tiếp tục lan rộng như là một quá trình kinh tế, xã hội toàn thế giới - quá trình mở rộng thành phố, tập trung dân cư, thay đổi các mối quan hệ xã hội; quá trình đẩy mạnh và đa dạng hoá những chức năng phi nông nghiệp, mở rộng giao dịch, phát triển lối sống và văn hoá đô thị. Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam tuy diễn ra khá sớm, ngay từ thời trung đại với sự hình thành một số đô thị phong kiến, song do nhiều nguyên nhân, quá trình đó diễn ra chậm chạp, mức độ phát triển dân cư thành thị thấp.
Thập kỷ cuối thế kỷ XX mở ra bước phát triển mới của đô thị ở Việt Nam. Đặc biệt, sau khi Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Doanh nghiệp (năm 2000), Luật Đất đai (năm 2003), Luật Đầu tư (năm 2005); Chính phủ ban hành Nghị định về Qui chế khu công nghiệp, khu chế xuất (năm 1997)… nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng vọt, gắn theo đó là sự hình thành trên diện rộng, số lượng lớn, tốc độ nhanh các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới và sự cải thiện đáng kể kết cấu hạ tầng ở cả thành thị và nông thôn. Làn sóng đô thị hoá đã lan toả, lôi cuốn, như thổi luồng sinh khí mới và tác động trực tiếp đến nông thôn, đời sống con người Việt Nam. Một đô thị hay khu đô thị là một khu vực có mật độ gia tăng các công trình kiến trúc do con người xây dựng so với các khu vực xung quanh nó.
Các đô thị có thể là thành phố, thị xã, trung tâm dân cư đông đúc nhưng thuật từ này thông thường không mở rộng đến các khu định cư nông thôn như làng, xã, ấp. Các đô thị được thành lập và phát triển thêm qua quá trình đô thị hóa. Đo đạt tầm rộng của một đô thị sẽ giúp ích cho việc phân tích mật độ dân số, sự mở rộng đô thị, và biết được các 12 số liệu về dân số nông thôn và thành thị. Không như một đô thị, một vùng đô thị không chỉ bao gồm đô thị mà còn bao gồm các thành phố vệ tinh cộng vùng đất nông thôn nằm xung quanh có liên hệ về kinh tế xã hội với thành phố đô thị cốt lỏi, tiêu biểu là mối quan hệ từ công ăn việc làm đến việc di chuyển hàng ngày ra vào mà trong đó thành phố đô thị cốt lỏi là thị trường lao động chính.
Thấy rõ các đô thị thường kết hợp và phát triển như trung tâm hoạt động kinh tế, dân số trong một vùng đô thị lớn hơn. Định nghĩa về đô thị thì khác nhau tại các quốc gia khác nhau. Thông thường mật độ dân số tối thiểu cần thiết để được gọi là một đô thị phải là 400 người trên một cây số vuông hay 1000 người trên một dặm vuông Anh. Các quốc gia châu Âu định nghĩa đô thị dựa trên cơ bản việc sử dụng đất thuộc đô thị, không cho phép có một khoảng trống tiêu biểu nào lớn hơn 200 mét.
Dùng không ảnh chụp từ vệ tinh thay vì dùng thống kê từng khu phố để quyết định ranh giới của đô thị. Tại các quốc gia kém phát triển, ngoài việc sử dụng đất và mật độ dân số nhất định nào đó, một điều kiện nữa là phần đông dân số, thường là 75% trở lên, không có hành nghề nông nghiệp hay đánh cá. Để thấy rõ hơn khái niệm đô thị ở các quốc gia khác, khảo sát một số nước với khái niệm đô thị ta sẽ thấy rõ hơn khái niệm đô thị ở Việt Nam. Tại Úc, các đô thị thường được ám chỉ là các "trung tâm thành thị" và được định nghĩa như là những khu dân cư chen chúc có từ 1000 người trở lên và mật độ dân cư phải tối thiểu là 200 người trên một cây số vuông.
Tại Canada, một đô thị là một vùng có trên 400 người trên một cây số vuông và tổng số dân phải trên 1. Nếu có hai đô thị hoặc nhiều hơn trong phạm vi 2 km của nhau, các đô thị này được nhập thành một đô thị duy nhất. Các ranh giới của một đô thị không bị ảnh hưởng bởi ranh giới của các khu tự quản (thành phố) hoặc thậm chí là ranh giới tỉnh bang. Tại Trung Quốc, một đô thị là một khu thành thị, thành phố và thị trấn có mật độ dân số hơn 1.500 người trên một cây số vuông.
Đối với các khu thành thị có mật độ dân số ít hơn 1.500 người trên một cây số vuông thì chỉ dân số sống trong các đường phố, nơi có dân cư đông đúc, các làng lân cận nhau được tính là dân số thành thị. Tại Pháp, một đô thị là một khu vực bao gồm một vùng phát triển do xây cất 13 (gọi là một "đơn vị thành thị" - gần giống như cách định nghĩa của đô thị Bắc Mỹ và các vùng vành đai ngoại ô). Tại Nhật Bản, các đô thị được định nghĩa như là các vùng cận kề nhau gồm các khu dân cư đông đúc. Điều kiện cần thiết là đô thị phải có mật độ dân số trên 4.000 người trên một cây số vuông.
Ở Việt Nam, theo nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 5 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ Việt Nam về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị. Đô thị là khu dân cư tập trung có những đặc điểm sau: Về cấp quản lí, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập; Về trình độ phát triển, đô thị phải đạt được những tiêu chuẩn sau: Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như: vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trong thành phố trực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện. Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỉ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị, quy mô dân số ít nhất là 4000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km². Theo cách nghĩ đô thị như trên, Việt Nam phân vùng đô thị như sau: Đô thị loại đặc biệt (2 thành phố): Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đô thị loại 1 (10 thành phố): Hải Phòng; Đà Nẵng; Cần Thơ; Huế; Vinh; Đà Lạt; Nha Trang; Quy Nhơn; Buôn Mê Thuột; Thái Nguyên. Đô thị loại 2 (12 thành phố): Biên Hòa; Nam Định; Hạ Long; Vũng Tàu; Việt Trì; Hải Dương; Thanh Hóa; Mỹ Tho; Long Xuyên; Pleiku; Phan Thiết; Cà Mau. Đô thị loại 3 (38 thành phố, thị xã): Các thành phố còn lại, các thị xã: Thủ Dầu Một; Châu Đốc; Bà Rịa; Bạc Liêu; Sa Đéc;Cửa Lò; Cam Ranh; Vĩnh Long; Cao Lãnh; Sóc Trăng. Đô thị loại 4: Các thị xã còn lại và một vài thị trấn lớn.
Đô thị loại 5: Các thị trấn. Bối cảnh lịch sử và sự thay đổi tư duy, cảm hứng trong văn học 1. Bối cảnh lịch sử - xã hội 14 Bước ra từ hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, chống Pháp và chống Mĩ, đất nước ta hoàn toàn thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà. Trong chiến tranh, trọng trách của mỗi người là ý thức giữ gìn và bảo vệ non sông đất nước, hoàn thành sứ mệnh mà lịch sử giao phó, thì sau năm 1975 cuộc sống hoà bình đã trở lại, bài ca khải hoàn ấy đã mở ra một kỷ nguyên mới, vận hội mới, nhiều tiềm lực mới được phát hiện trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Cả nước lúc bây giờ lại phải đương đầu với những cam go thử thách mới, không kém phần khốc liệt: vừa bảo vệ Tổ quốc, vừa xây dựng đất nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Năm 1986 là một mốc son của cả đất nước. Đại hội VI của Đảng đã mở ra một thời kỳ mới cho lịch sử dân tộc. Đây là Đại hội của thời kỳ mở cửa, thời kỳ đổi mới cho lich sử dân tộc.
Thế nhưng, sau đổi mới, nền kinh tế thị trường bộc lộ những mặt hạn chế, mặt trái của nó: hiện tượng băng hoại về mặt đạo đức ngày càng nhiều, con người trượt dài trên con đường tha hoá, biến chất vì cám dỗ vật chất, không ít gia đình đứng trước nguy cơ tan vỡ hạnh phúc, những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của cha ông cũng đang dần bị phá vỡ, quan hệ giữa người với người trở nên khô cứng, căn bệnh “tiền tệ hoá” ngày càng lan nhiễm mạnh vào từng ngõ ngách gia đình, chen lẫn vào cuộc sống của cả cộng đồng. Tất cả những biến động lớn về lịch sử xã hội đã kéo theo những sự xáo trộn trong đời sống văn hoá của dân tộc. Không thể phủ nhận sau chiến tranh tất cả đang dần dần hồi sinh, mang lại hơi thở mới cho từng cá nhân, cho toàn dân tộc. Con người đón nhận cuộc sống mới và được sống là chính mình, nhưng cũng chính điều đó đã làm cho cuộc sống mới trở nên phức tạp và bề bộn hơn.
Nhu cầu của cuộc sống liên tục thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu và những tiêu chuẩn ngày càng cao của xã hội. Con người lúc bấy giờ không phải như con người thời trước, không hoàn toàn giữ nét trong sáng, thánh thiện, vì mục đích cao cả, luôn đặt chân lí làm đầu, mà con người hiện đại nhiều mưu mô, toan tính, vụ lợi và đa nghi hơn rất nhiều. Cơ chế thị trường phát triển, cuốn theo cơn lốc cạnh tranh về mọi mặt của đời sống, mối quan hệ giữa người với người ngày càng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, mang màu sắc toan tính hơn là những 15 giá trị tình cảm. Cuộc sống bon chen, vì đồng tiền manh áo đẩy con người ta vào những bi kịch, nhiều khi không tìm được lối thoát cho riêng mình.
Năm 1986 là dấu mốc quan trọng trong đời sống xã hội nói chung và đời sống văn học nghệ thuật nói riêng.