mở đầu, NXB Xây dựng, 2003. Childe (1950), The urban revolution. Town plangning review 1950. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiên xảy ra trên quy mô lớn, cần có thời gian để nghiên cứu và đánh giá được bản chất của hiện tượng từ những trải nghiệm thực tế.
Nhóm thứ hai nghiên cứu về đô thị hóa và những yếu tố tác động đến đô thị hóa, ở giai đoạn hậu cách mạng công nghiệp quá trình đô thị hóa thực sự đã diễn ra mạnh mẽ, khi mà cách mạng khoa học-kỹ thuật có những bước phát triển như vũ bão, tác động mạnh đến những chuyển biến căn bản trong cơ cấu của lực lượng sản xuất và ảnh hưởng sâu sắc đối với khu vực nông nghiệp-nông thôn. Do đó, ở giai đoạn này đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu một cách rõ nét hơn về đô thị hóa cũng như các yếu tố tác động đến nó. Tiêu biểu như nghiên cứu Một số mối liên hệ của đô thị hoá và mô hình phát triển kinh tế cơ bản của B.Berry (1962) đã phân tích mối quan hệ giữa kinh tế và đô thị hoá, ông thừa nhận “Đã tồn tại mối quan hệ chặt chẽ giữa trình độ phát triển kinh tế của một nước và trình độ đô thị hoá mà nước đó đạt được và đưa ra các chỉ số để phân tích các thành phần chủ yếu của quá trình đô thị hoá của một số quốc gia trên thế giới. Tác giả Pivôvarov (1972) với bài viết Đô thị hoá hiện nay, bản chất, các nhân tố và đặc điểm nghiên cứu in trong Những vấn đề đô thị hóa hiện nay lại nêu khá đầy đủ về những quan điểm mới về khái niệm đô thị hóa và khác biệt giữa “đô thị hoá” và “đô thị”.
Ông cũng khẳng định quá trình đô thị hoá ở mỗi nước có sự khác nhau, bởi sự tác động và điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, lịch sử ở mỗi quốc gia là khác nhau5. Đối với Reiss Man (1964), Quá trình đô thị hoá lại đi sâu vào phân tích các biến thể của quá trình đô thị hoá trên cơ sở tổng kết quá trình đô thị hoá đã diễn ra ở thế kỷ XX. Tác giả đã đưa ra một số biến thể của quá trình đô thị hóa như: (1) Tăng trưởng dân cư đô thị, sự gia tăng dân cư ở thành phố có hơn 100.000 dân; (2) Công nghiệp hoá, hệ quả là sự vận động của xã hội từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp; (3) Sự cấu trúc lại các mối quan hệ quyền lực trong xã hội nhằm tạo điều kiện cho công nghiệp hoá phát triển; (4) Về sự đề cao chủ nghĩa dân tộc, tạo nên hệ tư tưởng hành động có động cơ, lòng trung thành. Trong mỗi biến thể lại phân thành 4 dạng, mỗi dạng xây dựng với đặc thù của từng nước, từng giai đoạn phát triển.
Ông cũng cho rằng đây là bằng chứng cho thấy không phải tất cả các nước đều tiến tới đô thị hoá như nhau. Một số nước công nghiệp hóa trước, phát triển thành 5 Có khá nhiều tác giả khác cũng đồng tình với quan điểm về đô thị hoá này.Kogan người Nga trong bài Quá trình đô thị hoá xã hội và cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật-Những vấn đề triết học, 1969 đã quan niệm đô thị hoá “như một quá trình lịch sử thế giới, gắn liền mật thiết với sự phát triển của lực lượng sản xuất và của các hình thức giao tiếp xã hội”. Carter (1977) trong tác phẩm Nguồn gốc đô thị. Sự tiến bộ trong địa lý nhân văn đã nêu lên rằng: Đô thị hoá là kết qủa của tính cấp thiết của việc tạo dựng khu vực hành chính, sự lưu trữ hồ sơ, sự phát triển nghệ thuật, sự mở rộng thương mại, sự định hình của các nghề nghiệp đặc biệt.
Đô thị hoá có tính chất toàn thế giới, bao trùm lên nhiều nước có chế độ xã hội khác nhau. Tác giả nhấn mạnh nguyên nhân của đô thị hoá chính là do việc phát triển kinh tế và nó phụ thuộc vào đặc điểm của tầng quốc gia mà phát triển. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phố sau, một số nước ngược lại. Ông cũng chỉ ra rằng công nghiệp hóa không phải là nguyên nhân duy nhất phát triển đô thị.
Nhóm thứ ba, chủ yếu ở giai đoạn hậu công nghiệp, các nghiên cứu về đô thị hóa được tiếp cận dưới nhiều góc độ và toàn diện hơn, do đó đô thị hóa cũng được mở rộng hơn về khái niệm, nghiên cứu của H. Geyer về Mở rộng nền tảng lý thuyết đô thị hóa, tác giả đã đề cập đến khái niệm “Đô thị hoá khác biệt”, đây là một khái niệm mới nói về các hiện tượng đô thị hoá trong các đô thị hiện nay không chỉ là các dòng dịch cư chính nông thôn-đô thị mà tồn tại nhiều dòng dịch cư địa lý khác nhau. Và quá trình dịch cư trong mối quan hệ giữa vùng trung tâm đô thị và ngoại ô của các đô thị lớn được quan tâm đặc biệt. Quá trình này được tác giả cho rằng diễn ra theo 4 bước: (1) Bước “Đô thị hoá” khi dân cư đô thị phát triển ở vùng nông thôn xung quanh; (2) Bước “Ngoại ô hoá” khi vùng ven phát triển tới trung tâm; (3) Bước “Phi đô thị hoá” khi có sự giảm dân cư của vùng trung tâm vượt hơn sự tăng của vùng ngoại vi, kết quả là làm giảm dân cư của đô thị nói chung; (4) Bước “Đô thị hoá lại” khi vùng trung tâm tăng dân cư lại trong khi vùng ngoại vi tiếp tục giảm dân cư.
Đây là những phát hiện rất quan trọng đối với những lý luận về đô thị hoá, nó cho thấy mỗi một mức độ phát triển kinh tế xã hội của loài người, quá trình đô thị hoá lại có những sắc thái riêng. Burgess trong trường phái Xã hội học Chicago lại đề cập đến những mặt trái của đô thị hoá như sự gia tăng tỷ lệ tội phạm, sự xuống cấp của môi trường xã hội , sự tan vỡ của thiết chế gia đình , sức ép đến lối sống ở nông thôn, đến những thiết chế xã hội đặc thù ở nông thôn như tổ chức dòng họ , hội nghề nghiệp, hôn nhân, lễ hội, tự quản cộng đồng, công tác xã hội với cộng đồng, di dân. Nghiên cứu của Preston, Samuel (1979) Về đô thị hóa và tăng trưởng đô thị ở các nước đang phát triển6 nhấn mạnh quá trình đô thị hóa và sự tăng trưởng đô thị ở các nước đang phát triển theo hướng tiếp cận lý thuyết hiện đại hóa. Qua chuyên khảo, tác giả cho rằng tỷ lệ thay đổi của tỷ trọng dân số đô thị giữa các nước phát triển trước đây và các nước đang phát triển hiện nay là tương tự nhau.
Dân số đô thị và dân số nông thôn của các nước phát triển tăng chậm hơn so với các nước đang phát triển7. Những nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn có tỷ lệ di cư nông thôn-đô thị cao hơn. Ngoài ra, tác giả công trình này còn phát hiện sự tăng trưởng đô 6 Trong công trình này ông đã nghiên cứu dựa trên nguồn số liệu về sự biến đổi dân số của 1.212 thành phố có dân số từ 100.000 trở lên từ 1950-1975, qua nghiên cứu ông đã kiểm chứng được một số khía cạnh của lý thuyết hiện đại hóa. 7 Trong nghiên cứu này tác giả đã đưa ra tỷ lệ dân số đô thị và nông thôn ở các nước phát triển tăng thêm tương ứng 100% và 18%, trong khi ở các nước đang phát triển tương ứng là 188% và 49%.
Xin xem thêm Lê Thanh Sang. Đô thị hóa và cấu trúc đô thị Việt Nam trước và sau Đổi mới 1979-1989 và 1989-1999, NXB Khoa học xã hội, 2008, 435 tr. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thị ở các nước đang phát triển không gắn với sự suy giảm tỷ số công nghiệp/đô thị. Tỷ số này năm 1950 là 0,552 và đến năm 1970 là 0,5788.
Cùng với Preston, Bradshaw (1987) đã tiến hành một nghiên cứu để ủng hộ lý thuyết hiện đại hóa, tuy nhiên đối tượng nghiên cứu trong công trình của ông lại là 61 quốc gia kém phát triển trong giai đoạn 1960-1980. Kết quả của công trình nghiên cứu đã đưa ra những dẫn chứng để minh họa cho lý thuyết thiên vị đô thị9 và lý thuyết phụ thuộc. Một số hạn chế của công trình nghiên cứu này là việc lựa chọn biến đo lường không theo những chuẩn mực phổ biến. Tác giả đã lựa chọn biến phụ thuộc đo lường là đô thị hóa tương đối chứ không phải là mức độ đô thị hóa, và sự chênh lệch giữa nông thôn-đô thị không chỉ là biểu hiện những tác động của sự thiên vị đô thị mà còn là của hiện đại hóa…10 Một hướng nghiên cứu khác của Firebaugh (1979), Điều kiện nông thôn của 27 quốc gia châu Á và Mỹ La tinh giai đoạn 1960-1970, ông đã tiến hành nghiên cứu đô thị hóa từ các nhân tố đẩy ở hai hướng đo lường là mật độ dân số nông nghiệp và hình thức sử dụng đất.
Kết quả cho thấy, điều kiện nông thôn có ảnh hưởng quan trọng đối với đô thị hóa ở các nước thứ Ba, trực tiếp thông qua di cư nông thôn-đô thị và gián tiếp thông qua sự khác nhau về mức sinh giữa nông thôn-đô thị. Cụ thể, tác giả phát hiện rằng mật độ dân số nông nghiệp cao đã tạo ra thu nhập và các cơ hội việc làm từ nông nghiệp sẽ thấp, điều này đã tạo nên sức ép và thúc đẩy các làn di cư từ nông thôn đến đô thị. Ngoài ra, việc canh tác nông nghiệp dưới hình thức trang trại đòi hỏi phải tập trung ruộng đất tương đối lớn. Điều này dẫn đến phân hóa, khiến một bộ phận nông dân mất đất canh tác và phải tìm kiếm việc làm ngoài đô thị.
Chính việc di cư nông thôn-đô thị là nhân tố thúc đẩy quan trọng đã làm tăng tốc quá trình đô thị hóa11. Như vậy theo Firebaugh, áp lực đất nông nghiệp là một yếu tố quan trọng giải thích cho tính chất đô thị hóa quá mức ở các đô thị nhưng chưa phải là điều kiện đủ cho đô thị hóa quá mức. Cần tìm hiểu mối quan hệ giữa mức độ đô thị hóa và mức độ tăng trưởng kinh tế. Ở giai đoạn này một số công trình cũng đã chú ý nghiên cứu đến các vùng ngoại ô của đô thị, như nghiên cứu của Bourne.S (1990) về vùng ngoại ô của Mỹ.
(1979), Urban Growth in Developing Countries: A Demographic Reappraisal. Population and Development Review 5: 195-215.