Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nghiên cứu về phân bố, tập tí nh và vai trò truyền bệnh của muỗi Aedes trên thế giới vàViệt Nam 1. Vị tríphân loại muỗi Aedes Muỗi Aedes spp. thuộc phân họ Culicinae, là phân họ lớn nhất có khoảng 3.069 loài với 110 giống, nhiều giống là véc tơ chính truyền nhiều bệnh cho con người.
Giống Aedes có vai trò quan trọng trong truyền bệnh sốt vàng, SXHD, bệnh do virus Chikungunya, Zika và một vài loài Aedes cũng là véc tơ truyền bệnh giun chỉ vàvirus [30],[68],[123],[126]. Vị tríphân loại muỗi Ae. Aedes aegypti (Linnaeus, 1762) Aedes albopictus (Skuse, 1894) Giới: Animalia Giới: Animalia Ngành: Arthropoda Ngành: Arthropoda Lớp: Insecta Lớp: Insecta Bộ: Diptera Bộ: Diptera Họ: Culicidae Họ: Culicidae Phân họ: Culicinae Phân họ: Culicinae Giống: Aedes Giống: Aedes Phân giống: Stegomyia Phân giống: Stegomyia Loài: Aedes (Stegomyia) aegypti Loài: Aedes (Stegomyia) albopictus Trong nghiên cứu này tập trung vào hai loài muỗi gồm Ae. aegypti và Ae.
albopictus, hai véc tơ truyền bệnh SXHD tại Việt Nam cũng như nhiều khu vực khác trên thế giới. Ngoài ra, hai loài này cũng truyền bệnh sốt vàng, bệnh do virus Zika vàChikungunya [11],[106],[126]. Hình thái muỗi Ae. albopictus Cả hai loài có kích thước nhỏ đến trung bình, thân có màu đen bóng, có nhiều vẩy trắng bạc tập trung thành từng cụm hay từng đường, đặc biệt trên phần ngực.
aegypti định loại dựa vào mặt lưng của tấm lưng ngực có hai đường vẩy trắng bạc phình ra như hai nửa vòng cung ôm hai bên tấm lưng ngực giống hình đàn. albopictus, trên mặt lưng của tấm lưng ngực chỉ có 1 đường vảy trắng bạc ở giữa lưng [27],[84],[124]. Hình thái ngoài của muỗi Ae. Phân bố, tập tí nh vàvai tròtruyền bệnh của muỗi Aedes trên thế giới 1.
Nghiên cứu về phân bố vàtập tí nh của muỗi Aedes Muỗi giống Aedes cómặt khắp nơi trên thế giới vàcókhoảng trên 950 loài, gây ra mối phiền hàlớn do việc đốt người vàsúc vật. Muỗi giống Aedes, đặt biệt hai loài Ae. albopictus đóng vai trò quan trọng trong sự lan truyền bệnh SXHD, sốt vàng, bệnh do virus Zika, Chikungunya, các bệnh virus khác và cũng có thể truyền bệnh giun chỉ [30],[126]. aegypti phổ biến nhất ở thành thị, nơi đông dân cư nên đây được xem làvéc tơ chính gây dịch SXHD tại các đô thị, nhưng hiện nay đã 5 mở rộng phân bố ra các vùng nông thôn, thường liên quan đến quá trình đô thị hóa, phát triển cơ sở hạ tầng như mở rộng các công trì nh cấp thoát nước vàcải tạo hệ thống giao thông ở vùng nông thôn [120],[124].
Độ cao làyếu tố quan trọng giới hạn sự phân bố muỗi Ae. aegypti và càng lên cao thìmật độ muỗi giảm dần. Tại Ấn Độ, muỗi Ae. aegypti phân bố độ cao lên đến 1.200 m so với mặt nước biển.
Khu vực Đông Nam Á, độ cao từ 1.500 m được xem làgiới hạn phân bố của loài này. Tuy nhiên ở các khu vực khác thìloài này phân bố ở độ cao lên đến 2.200 m như Colombia và2. aegypti là một trong những véc tơ quan trọng nhất truyền arbovirus vì chúng thường sống trong nhà và thích đốt người. Loài này đốt ban ngày và có hai đỉnh đốt gồm sáng sớm vàchiều tối, tuy nhiên đỉnh hoạt động cóthể thay đổi thùy theo địa phương và mùa.
aegypti thường đốt hơn một lần để hoàn thành một chu kỳ tiêu sinh, điều này làm gia tăng nguy cơ lan truyền bệnh. Loài này không đốt vào ban đêm nhưng sẽ đốt nếu trong phòng có ánh sáng. Giai đoạn ấu trùng thường tìm thấy ở dụng cụ chứa nước (DCCN) trong vàxung quanh nhà[30],[124]. Khả năng phát tán của loài Ae.
aegypti phụ thuộc vào vị trísinh sản cũng như vật chủ, nhưng thông thường giới hạn khoảng từ 30 - 50 m tính từ vị trímuỗi nở. Tuy nhiên những nghiên cứu gần đây cho biết loài này cóthể phát tán hơn 400 m ở Puerto Rico (Mỹ). Ngoài ra chúng có thể vận chuyển thụ động thông qua những dụng cụ cóbọ gậy vàtrứng [124]. Không giống như Ae.
aegypti, một số quần thể muỗi Ae. albopictus ch nghi với vùng cókhíhậu lạnh ở Bắc Á vàchâu Mỹ, vìtrứng của chúng thí cókhả năng tồn tại qua mùa đông. Loài muỗi này cũng là véc tơ truyền bệnh SXHD nhưng ít quan trọng hơn so với loài Ae. Muỗi 6 nh ở trong rừng, nhưng đã thích nghi với môi Ae.
albopictus phân bố chí trường sống của con người ở khu vực đô thị, bán đô thị vànông thôn. Trong sinh cảnh rừng chúng đẻ trong các hốc cây tre nứa, ngách lá; sinh cảnh đô thị chúng đẻ trong những DCCN nhân tạo như chum vại, phuy [121],[124]. Các vùng bán khôhạn của Ấn Độ, muỗi Ae. aegypti là véc tơ ở đô thị và chúng thay đổi theo lượng mưa và thói quen trữ nước của cộng đồng.
Các quốc gia Đông Nam Á cólượng mưa hằng năm thường lớn hơn 200 cm, do vậy muỗi Ae. aegypti duy trìổn định tại các đô thị, bán đô thị vànông thôn. Do tập quán trữ nước của người dân ở Indonesia, Myanmar vàThái Lan, nên mật độ muỗi Aedes ở ngoại ôcao hơn so với trung tâm. Xu hướng đô thị hóa làm tăng môi trường sống thuận lợi cho Ae.
aegypti phát triển quanh năm. Ở một số đô thị cóthảm thực vật đa dạng, thìAe. albopictus đều cómặt nhưng muỗi Ae. aegypti chiếm ưu thế hơn [126].
Phân bố muỗi Ae. albopictus đã mở rộng trên toàn cầu và làm tăng nguy cơ mắc SXHD, Chikungunya vàZika. aegypti, phố biến hơn ở châu Á và châu Đại Dương, tiếp đến ở châu Mỹ vàmột số ở khu vực ở châu Phi và châu Âu. Tương tự, muỗi Ae.
albopictus phổ biến ở châu Á, tiếp đến là châu Mỹ và châu Phi, châu Âu. Các quốc đảo ở Thái Bình Dương cũng ghi nhận sự có mặt của hai véc tơ này. aegypti là véc tơ phổ biến ở thành thị, thích đốt người, ngược lại muỗi Ae. albopictus phân bố chính ở vùng nông thôn và đốt cả người và động vật [85],[86],[92].
albopictus thường giới hạn ở các quốc gia khu vực cận Sahara châu Phi, nhưng nay mở rộng sang Mali. Đây là lần đầu tiên Mali ghi nhận sự có mặt muỗi Ae. albopictus và đang gia tăng ở khu vực miền Trung vàthủ đô Bamako. Sự mở rộng phân bố làdo vận chuyển hàng hóa có chứa trứng và bọ gậy bằng đường sông.
Dự báo loài này sẽ mở rộng đến các khu vực 7 thượng nguồn sông Niger vàcác nhánh sông của nó [93]. Đây là một minh chứng nữa chứng tỏ sự mở rộng loài này ra nhiều vùng khác nhau. Warabhorn vàcộng sự (2006) khi nghiên cứu sinh thái bọ gậy của hai loài Ae. aegypti và Ae.
albopictus ở ba khu vực miền Nam, Thái Lan cho biết nơi sinh sản chủ yếu của chúng ở các DCCN trong vàngoài nhà, các khu vực miền Nam đều có sự hiện diện muỗi Ae. aegypti và Ae. Nghiên cứu tại Sisaket, Thái Lan của Wongkoon (2013) cho biết mật độ bọ gậy Ae. aegypti cao hơn so với Ae.
albopictus vào mùa đông và mùa mưa. Bọ gậy Aedes/nhàvào mùa mưa thì nhiều mua đông và mùa hè [131]. Một nghiên cứu ở thành phố Cebu, Philippines trong năm 2012 cho biết có 38,4% số điểm điều tra có mặt muỗi Ae. aegypti và11,9% điểm có mặt Ae.
Những nơi sinh sản chí nh của muỗi Ae. aegypti gồm thùng nhựa (40,2%), thùng kim loại (29,6%) vàhộp nhựa (10,5%); những nơi sinh sản chí nh của muỗi Ae. albopictus gồm gốc tre (28,5%), thùng nhựa (21,1%) vàlốp xe (19,1%) [61]. Nghiên cứu đặc điểm sinh học vàkiểm soát muỗi Ae.
albopictus ở đảo Reunion cho thấy cùng với muỗi Ae. aegypti thìmuỗi Ae. albopictus làvéc tơ chính gây ra các vụ dịch ở đảo Ấn Độ Dương, đặc biệt ở Reunion. albopictus cókhả năng phát triển mạnh, các DCCN nhỏ ở đô thị làmôi trường lý tưởng cho Ae.
albopictus phát triển vàcác điểm sinh sản trong tự nhiên như các hốc tre, hốc đá là nơi ưa thích của Ae. Dieng vàcộng sự (2010) khi nghiên cứu muỗi Ae. albopictus trong nhàvàvai trò dịch tễ của chúng ở bán đảo phía bắc Malaysia cho biết muỗi Ae. albopictus sinh sản trong nhà và trong môi trường nước nhân tạo.
Khi sống môi trường trong nhà chúng tăng tuổi thọ, hút máu và làm tăng khả năng của véc tơ [60]. 8 Tác giả Kamgang vàcộng sự (2010), khi nghiên cứu muỗi Ae. aegypti và Ae. albopictus tại 3 thị trấn chính (Garoua, Douala và Yaoundé) ở Cameroon đã chỉ ra rằng: cả hai loài muỗi này được phát hiện ở Douala và Yaoundé, trong khi đó ở thị trấn Garoua chỉ cóloài Ae.
Môi trường sống hai loài này ở các thị trấn gần giống nhau, nhưng loài Ae. albopictus tập trung sinh sản ở các mảnh vụn thực vật, hốc cây. Với muỗi Ae. aegypti sinh sản chủ yếu ở các DCCN trong nhà[73]; Sự mở rộng vùng phân bố địa lý của véc tơ SXHD cũng đã được chứng minh tại Mỹ.
Trong năm thập kỷ không ghi nhận dịch SXHD, nhưng gần đây dịch SXHD đã xảy ra ở phí a Nam như bang Texas (2004-2005) và Florida (2009-2011) và khi điều tra đều phát hiện muỗi Ae. aegypti - hiện loài này đã mở rộng đến khu vực phí a Bắc nơi có khí hậu lạnh [62]. Nghiên cứu môi trường sống của muỗi Ae. albopictus ở các khu vực ngoại ô tại hai vùng khíhậu khác nhau ở Sri Lanka từ năm 2007-2009 cho biết chỉ số bọ gậy ở 4 khu vực có nguy cơ xảy ra dịch bệnh do sự phong phú muỗi Ae.
Nơi có chỉ số cao nhất ở hai loài này làkhu vực Kandy, đây là nơi có thảm thực vật dày, lượng mưa cao và nhiệt độ thấp. albopictus, số trứng trung bì nh hàng tháng cóquan hệ chặt chẽ với độ ẩm tương đối ở cả hai huyện và lượng mưa ở huyện Kandy [115]. Dave Chadee (2013), nghiên cứu tập tính trú đậu của Ae. aegypti ở Trinidad cho biết những vị trí trú đậu chính của Ae.
aegypti là phòng ngủ (81,9%), phòng khách (8,7%) vànhàbếp (6,9%). Nghiên cứu trong phòng thínghiệm cho thấy, chỉ 10% muỗi cái hút máu ngay sau quăng hóa lột xác thành muỗi, nhưng phần lớn 70% muỗi cái hút máu sau 12 giờ [57]. Theo một nghiên cứu mới nhất trong năm 2018 của tác giả Samson Leta và cộng sự (2018) cho biết: hiện có 251 quốc gia/vùng lãnh thổ trên 9 toàn cầu có môi trường sống thích hợp cho sự tồn tại của muỗi Ae. aegypti và Ae.
albopictus, trong đó có 197 quốc gia/vùng lãnh thổ có môi trường ch hợp cho Ae. albopictus và188 quốc gia/vũng lãnh thổ thích hợp sống thí Ae. aegypti [106], điều này gây ra mối hiểm họa đối với sức khỏe toàn cầu. Nhì n chung các kết quả nghiên cứu cho thấy: cả hai loài phân bố rộng cả vùng nhiệt đới và ôn đới.
Trong đó, muỗi Ae.