Đặt vấn đề Năm 2017, Việt Nam ghi nhận số lượng doanh nghiệp thành lập mới đạt mức kỷ lục 126,859 doanh nghiệp, so với năm 2011, số lượng doanh nghiệp thành lập mới cao gấp 1. Tính trung bình một doanh nghiệp thành lập mới đăng kí số vốn ban đầu là 10.2 tỉ đồng và tính cả 1,869 nghìn tỉ đồng của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn bổ sung vào nền kinh tế trong năm 2017 đạt 3,165 nghìn tỉ đồng. Điều này cho thấy xu hướng phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam đang ngày một tăng cao, bổ sung một khối lượng vốn lớn cho nền kinh tế, chưa kể đến thặng dư kinh tế và thặng dư xã hội mà các doanh nghiệp này mang lại trong suốt thời gian hoạt động của mình. Tuy nhiên, một điều đáng lưu tâm không kém là cũng trong năm 2017, số doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động là 72,666 doanh nghiệp trong đó 92% là doanh nghiệp có quy mô vốn vừa và nhỏ (dưới 10 tỷ đồng).
Như vậy, trung bình năm 2017, số doanh nghiệp phá sản, giải thể hoặc ngừng hoạt động chiếm gần 60% so với số doanh nghiệp mới thành lập. Những năm trước đó, tỉ lệ này còn cao hơn, đỉnh điểm là năm 2014, cứ 10 doanh nghiệp mới thành lập tại Việt Nam thì đồng thời có 9 doanh nghiệp tuyên bố phá sản1. Số doanh nghiệp thành lập mới và phá sản tại Việt Nam giai đoạn 2013 – 2017 được minh họa tại Biểu đồ 1.1 1 Theo dõi Phụ lục 1: Bảng thống kê số doanh nghiệp thành lập mới và phá sản giai đoạn 2013- 2017 2 Biểu đồ 1. Số doanh nghiệp thành lập mới và phá sản tại Việt Nam giai đoạn 2013 - 2017 126,859 110,100 94,754 76,955 74,842 15,649 11,723 19,917 21,684 10,803 55,742 40,116 46,599 40,750 38,869 9,818 9,501 9,467 12,478 12,113 2013 2014 2015 2016 2017 Số DN tạm thời ngừng hoạt động Số DN tạm dừng hoạt động chờ giải thể Số DN hoàn thành thủ tục giải thể Số DN mới thành lập (Nguồn: Tổng hợp của tác giả, 20182) Điều đáng bàn hơn, đây mới chỉ là số liệu được công khai, chưa kể đến các doanh nghiệp gặp khó khăn tài chính, đang trong tình trạng nợ nần, có nguy cơ phá sản nhưng vẫn cố gắng xoay sở để duy trì hoạt động của mình, chưa công khai thông tin hoặc không niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Có nhiều lý do để giải thích cho tình trạng này như sản xuất không hiệu quả, ảnh hưởng của cung cầu trên thị trường hàng hóa, chính sách lãi suất, tỷ giá, chế độ thuế, năng lực cạnh tranh yếu hoặc do các điều khoản, ràng buộc đối với doanh nghiệp khi Việt Nam tham gia vào các hiệp ước thương mại quốc tế, quản lý kém và thiếu các phương án dự phòng rủi ro… Tuy nhiên một trong những nguyên nhân chính khiến tình trạng khó khăn của doanh nghiệp càng thêm trầm trọng chính là 2 Tổng hợp từ Báo cáo tình hình kinh tế xã hội Việt Nam năm 2012, 2013, 2104, 2015, 2016, 2017, Tổng cục thống kê 2018. 3 nhà quản trị không nhận thấy được các dấu hiệu nguy hiểm từ chính năng lực tài chính của doanh nghiệp, khiến những khó khăn khi được phát hiện thường quá trễ để khắc phục, gây ra hậu quả nghiêm trọng và nghiêm trọng nhất là dẫn đến phá sản hoặc giải thể doanh nghiệp. Trong trường hợp công ty hay doanh nghiệp phá sản, các khoản chi phí kèm theo có thể còn gây ra thiệt hại lớn hơn. Chi phí phá sản gồm các chi phí trực tiếp như lệ phí tòa án, chi phí cho nhân công, các khoản thanh toán ngân sách và các chi phí gián tiếp trong việc quản lý một doanh nghiệp đang bị tái tổ chức.
Kiệt quệ tài chính rất tốn kém, điều này được phản ánh trong giá trị thị trường hiện tại của chứng khoán của doanh nghiệp đó. Chi phí kiệt quệ tài chính tùy thuộc vào xác suất kiệt quệ và độ lớn chi phí mà doanh nghiệp phải gánh chịu nếu kiệt quệ tài chính xảy ra. Theo lý thuyết M&M về cơ cấu vốn của Modigliani và Miller (1958), giá trị của doanh nghiệp sẽ được xác định bằng biểu thức: Giá trị doanh nghiệp = Giá trị nếu được tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần + Hiện giá (PV) của tấm chắn thuế - Hiện giá (PV) của chi phí kiệt quệ tài chính. Hiện giá của tấm chắn thuế ban đầu tăng khi doanh nghiệp vay thêm nợ.
Ở các mức nợ trung bình, xác suất kiệt quệ tài chính không đáng kể, và hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính khá nhỏ làm cho lợi thế của tấm chắn thuế trở nên vượt trội. Nhưng tại một thời điểm nào đó, xác suất kiệt quệ tài chính sẽ tăng nhanh với việc doanh nghiệp vay nợ thêm; chi phí kiệt quệ tài chính cũng lớn lên nhanh chóng, làm cho lợi ích thu được từ tấm chắn thuế của vay nợ giảm đi và cuối cùng biến mất. Theo lý thuyết đánh đổi (Kraus và Litezenberger, 1973), giá trị doanh nghiệp tỷ lệ thuận với hiện giá tấm chắn thuế và tỷ lệ nghịch với chi phí kiệt quệ tài chính. Chi phí kiệt quệ tài chính phát sinh chủ yếu do sử dụng nợ của doanh nghiệp.
doanh nghiệp sử dụng nợ càng nhiều, chi phí kiệt quệ tài chính càng lớn càng làm gia tăng nguy cơ kiệt quệ tài chính. Như vậy, một doanh nghiệp nên gia tăng nợ cho đến khi giá trị từ hiện giá của tấm chắn thuế vừa đủ để được bù trừ bằng gia tăng trong 4 hiện giá của các chi phí kiệt quệ tài chính. Tuy nhiên, trên thực tế không phải doanh nghiệp nào cũng xác định được cấu trúc vốn tối ưu cho mình. Thông thường, việc hưởng lợi từ tấm chắn thuế sẽ khiến doanh nghiệp gia tăng vay nợ, điều này khiến doanh nghiệp dễ rơi vào các khó khăn tài chính khi các điều kiện tín dụng thay đổi.
Kiệt quệ tài chính xảy ra khi doanh nghiệp không thể thu xếp được dòng tiền để trả nợ lãi và nợ gốc, lúc này, doanh nghiệp còn phải gánh chịu khoản chi phí kiệt quệ tài chính. Chi phí kiệt quệ tài chính có thể chia làm 2 phần chính: - Chi phí phá sản gồm các chi phí trực tiếp như lệ phí tòa án và các chi phí gián tiếp phản ánh các khó khăn trong việc quản lý một công ty đang bị tái tổ chức. - Chi phí kiệt quệ tài chính nhưng chưa phá sản: Các mâu thuẫn quyền lợi giữa trái chủ và cổ đông của doanh nghiệp trong kiệt quệ tài chính có thể đưa đến các quyết định yếu kém về hoạt động và đầu tư. Các cổ đông hành động vì quyền lợi cá nhân có thể chuyển rủi ro từ họ sang cho các chủ nợ gánh chịu bằng các hành vi làm giảm tổng giá trị của doanh nghiệp như từ chối đóng góp vốn cổ phần, thu hồi tiền và bỏ chạy, kéo dài thời gian.
Các điều khoản trong hợp đồng nợ có thể ngăn ngừa các hành vi này nhưng các điều khoản này lại làm gia tăng chi phí soạn thảo, giám sát, và thực thi hợp đồng nợ. Chi phí kiệt quệ tài chính khác nhau tùy theo loại tài sản. Một vài tài sản như các bất động sản có giá trị thương mại tốt, có thể trải qua phá sản và tái cơ cấu mà phần lớn giá trị không suy chuyển; trong khi đó giá trị của các tài sản khác, đặc biệt liên quan đến tài sản vô hình gắn liền với tình hình sức khỏe của doanh nghiệp như công nghệ, nguồn nhân lực, nhãn hiệu, trình độ nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới. Đây có thể là lý do giải thích tại sao các doanh nghiệp trong ngành dược phẩm, phần mềm, ngành dịch vụ thường duy trì tỷ lệ nợ thấp.
Điều cần thiết là phải có biện pháp để đánh giá, đo lường mức độ khó khăn tài chính của các doanh nghiệp nhằm cảnh báo cho chính các nhà quản trị, ban lãnh 5 đạo công ty và cổ đông để có biện pháp kịp thời nhằm cải thiện tình hình hoạt động hoặc ít nhất là giảm thiểu thiệt hại khi có tình trạng kiệt quệ tài chính xảy ra. Câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để có thể dự báo một doanh nghiệp có nguy cơ bị kiệt quệ tài chính mà không phải tốn quá nhiều công sức để phân tích một khối lượng khổng lồ các thông tin định lượng và định tính của một doanh nghiệp. Trong rất nhiều phương pháp thì mô hình thường được sử dụng để đo lường tình trạng kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp là Mô hình điểm số Z (hay Z-Scores), mô hình này được xem là một trong những mô hình ngắn gọn, nhanh chóng, phù hợp và mang lại kết quả đáng tin cậy. Đo lường nguy cơ kiệt quệ tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP.
Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2013 – 2017 sẽ đem lại cái nhìn tổng quan về một trong những thị trường sản xuất và tài chính lớn nhất cả nước. Từ đó, đánh giá được tình trạng sức khỏe của phần lớn các doanh nghiệp và giải thích được một số nguyên nhân gây ra các khó khăn mà công ty hay doanh nghiệp đang gặp phải. Việc sử dụng kết quả từ mô hình kết hợp với các phân tích định tính để đi đến kết luận các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh đã bị xem là kiệt quệ tài chính hay chưa là một điều hết sức cần thiết.
Từ đó, đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính doanh nghiệp tại Việt Nam nói chung, cũng như đánh giá được tính chính xác và đề ra các lưu ý trong quá trình thực nghiệm Mô hình điểm số Z khi đo lường các rủi ro tài chính. Mục tiêu của đề tài Đánh giá tình hình tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn 2013 – 2017 thông qua các chỉ số tài chính và chỉ số kinh tế xã hội Sử dụng mô hình điểm số Z để đánh giá các doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2013 - 2017, đưa ra kết luận các doanh nghiệp này đã rơi vào tình trạng có nguy cơ phá sản hay chưa, mức độ cảnh báo cho một số trường hợp tiêu biểu.
6 Giải thích được một số nguyên nhân gây ra sự thiếu lành mạnh về mặt tài chính của các doanh nghiệp. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị có tính khả thi, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại và năng lực hiện có của doanh nghiệp. Câu hỏi nghiên cứu Kiệt quệ tài chính là gì ?