MỞ ĐẦU Hiện nay, trên thị trường các loại phân bón được sử dụng nhiều do chúng có hiệu quả nhanh, hàm lượng dinh dưỡng cao, dễ sử dụng và đa dạng phù hợp với mọi nhu cầu. Tuy nhiên, hầu hết phân bón trên thị trường hiện nay có độ hòa tan khá cao nên dễ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố tác động bởi môi trường như nhiệt độ và lượng mưa, dẫn đến việc thất thoát do bay hơi hoặc chảy vào các hệ thống dẫn nước gây ô nhiễm môi trường và làm giảm hiệu quả sử dụng của phân bón. Nitơ là yếu tố quan trọng cho việc sinh trưởng và tăng năng suất cho cây trồng. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 42 – 47 % lượng nitơ được cây trồng hấp phụ, phần còn lại sẽ bị thất thoát ra môi trường, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và sức khỏe con người [2].
Ure là một trong những loại phân bón được sử dụng thường xuyên do hàm lượng nitơ cao (46 % trọng lượng). Ure tan nhanh chóng trong đất và do độ hòa tan cao nên dễ bị nước rửa trôi hoặc quá trình enzyme urease dẫn đến việc giải phóng amoniac ngay trước khi cây trồng hấp thụ [3]. Bên cạnh đó, những vấn đề như độ xốp của đất, việc cung cấp nước và chất dinh dưỡng phù hợp cho cây trồng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng thu hoạch và năng suất sản xuất. Chính vì thế việc sử dụng các loại phân bón “thông minh” được xem là một giải pháp hiệu quả giảm thiểu việc thất thoát chất dinh dưỡng và các tác động bất lợi đến môi trường.
Khác với phân bón thông thường, phân bón “thông minh” có nhiều ưu điểm vượt trội như giảm tỷ lệ thất thoát, giảm tần suất bón phân, cung cấp chất dinh dưỡng một cách bền vững, giảm tác động tiêu cực đến môi trường. Sự kết hợp giữa hydrogel với phân bón là xu hướng mới nhất trong nghiên cứu để giải quyết các vấn đề nông nghiệp này. Sự kết hợp này tạo ra hydrogel phân bón giải phóng chậm (SRFHs - Slow-Release fertiliser hydrogels), giảm khả năng thất thoát nước của đất, tăng hiệu quả sử dụng phân bón, không gây lãng phí và giảm tác động đến môi trường, giảm thất thoát do bay hơi và tần suất tưới nước. SRFHs có thể được tổng hợp từ các polyme tự nhiên hay polyme tổng hợp.
Tuy nhiên, hầu hết các polyme tổng hợp không thể phân hủy sinh học, gây ô nhiễm môi trường, đồng thời sẽ tăng chi phí khi sản xuất. Do đó, việc sử dụng các polyme tự nhiên trở thành trọng tâm nghiên cứu cho các ứng dụng nông nghiệp do khả năng phân hủy sinh học, nguồn tài nguyên 1 dồi dào và chi phí thấp. Chính vì những lý do trên, trong bài khóa luận này, SRHFs sử dụng các polysacharide như tinh bột, agar và lignin tạo ra hydrogel kết hợp phân ure để phát triển SRFHs có tính nhả chậm chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng. Nội dung nghiên cứu Tách lignin từ bã mía bằng phương pháp kiềm.
Xây dựng quy trình tổng hợp hydrogel từ tinh bột bắp/bột agar và lignin sử dụng glutaraldehyde và epichlohydrin làm liên kết ngang, ứng dụng làm phân nhả chậm. Khảo sát sự thay đổi tính chất của vật liệu khi thay đổi các tỉ lệ nồng độ các chất sau: ure, hàm lượng chất liên kết ngang và hàm lượng lignin. So sánh hiệu quả của hai chất liên kết ngang glutaraldehyde và epichlorohydrin trong việc tổng hợp hydrogel có khả năng giải phóng ure. Đánh giá khả năng giữ và giải phóng ure của vật liệu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Tổng hợp hydrogel từ các polysaccharide như tinh bột bắp, bột agar và lignin. Đồng thời sử dụng glutaraldehyde (GA) và epichlorohydrin (ECH) làm tác nhân tạo liên kết ngang và ure được sử dụng làm phân bón đưa vào hydrogel này. Phương pháp nghiên cứu Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý thuyết, xây dựng quy trình thực nghiệm. Giai đoạn 2: Tách lignin từ bã mía.
Giai đoạn 3: Tổng hợp hydrogel A (sử dụng GA làm tác nhân liên kết ngang) và hydrogel B (sử dụng ECH làm tác nhân liên kết ngang). Giai đoạn 4: Khảo sát ảnh hưởng sự thay đổi nồng độ các chất đến độ trương nở, khả năng giữ và giải phóng ure. 2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Ý nghĩa khoa học: Các polyme có nguồn gốc tự nhiên đang ngày càng trở nên phổ biến do khả năng tương thích sinh học và khả năng phân hủy sinh học. Tuy nhiên, mặc dù chúng có nhiều ưu điểm nhưng chưa phổ biến trong các nghiên cứu hiện nay.
Do đó mục tiêu quan trọng của đề tài này cung cấp đánh giá tổng quan về việc nghiên cứu các hydrogel sử dụng các polyme tự nhiên cho việc giải phóng có kiểm soát phân bón qua các giai đoạn tổng hợp, hiệu suất và cơ chế giải phóng. Ý nghĩa thực tiễn: Tổng hợp được hydrogel từ các nguồn nghiên liệu tự nhiên sẽ giải quyết được các vấn đề về ô nhiễm môi trường chi phí sản xuất thay vì sử dụng các polyme tổng hợp. Đồng thời sẽ tạo ra được vật liệu giải quyết được các vấn đề nông nghiệp hiện nay. Cấu trúc của KLTN Luận văn được chia thành 3 chương Chương 1: Tổng quan.
Chương 2: Thực nghiệm. Chương 3: Kết quả và bàn luận.1 Khái niệm về phân nhả chậm 1. Khái niệm Phân bón nhả chậm (SRF-Slow-Release Fertiliser) và phân bón nhả có kiểm soát (CRF- Controlled Release Fertiliser) thường được sử dụng thay thế cho nhau. SRF được biết đến là “các hợp chất hòa tan thấp có cấu trúc hóa học phức tạp/ trọng lượng phân tử cao, giải phóng chất dinh dưỡng thông qua hợp chất phân hủy về mặt hóa học hoặc vi sinh vật” [6], trong đó CRF có thể được định nghĩa là “các sản phẩm chứa nguồn dinh dưỡng hòa tan trong nước, giải phóng chất dinh dưỡng trong đất được kiểm soát bởi lớp phủ lên phân bón”.
Ngoài ra, theo tác giả Irenkel [7], phân bón được xem là loại phân bón tan chậm nếu đáp ứng được ba yêu cầu cụ thể sau + Không quá 15 % được giải phóng trong 24 h. + Không quá 75 % được giải phóng trong 28 ngày. + Ít nhất 75 % được giải phóng trong thời điểm bón phân. Phân loại Theo các tài liệu hiện nay [7], SRF có thể phân loại thành ba loại chính: Dạng vô cơ: SRF vô cơ có độ hòa tan thấp, thường được sử dụng bao gồm các hợp chất có công thức MeNH4PO4.xH2O, trong đó Me là các cation hóa trị hai của các kim loại như Fe, Zn, Mg hoặc Mn [8].
Dạng hữu cơ: loại SRF này có thể phân thành hai loại chính: tự nhiên và tổng hợp. - SRF tự nhiên là các hợp chất hữu cơ tự nhiên (phân động vật, bùn thải,. Chất dinh dưỡng được giải phóng từ các hợp chất hữu cơ này phụ thuộc vào hoạt động vi sinh vật của đất, độ ẩm và nhiệt độ trong đất. Vì vậy, SRF tự nhiên mất nhiều thời gian giải phóng các chất dinh dưỡng trong đất [9].
4 - SRF tổng hợp có độ hòa tan thấp, bao gồm các sản phẩm phụ từ ure và acetaldehyde. Các hợp chất này còn được chia nhỏ thành các hợp chất phân hủy sinh học, ví dụ như ure formaldehyde (UF) và các hợp chất phân hủy sinh học như isobutyledene-diurea (IBDU) hoặc ure acetaldehyde/cyclo diurea (CDU). Phân bón dạng phủ (kiểm soát việc nhả chất dinh dưỡng bằng lớp phủ) là loại SRF chính thứ ba, trong đó các hạt phân bón được phủ từ các vật liệu như lưu huỳnh hoặc polyme hữu cơ, các polyme tổng hợp hoặc sử dụng hydrogel làm chất nền chứa chất dinh dưỡng và được giải phóng bằng cơ chế khuếch tán [6]. Chất nền và lớp phủ có thể điều chế từ các vật liệu kị nước (polyolefin, cao su,.
Nhưng nhược điểm chính của phân bón phủ bao gồm lớp phủ không đồng nhất, tạo màng kém và khả năng chống nước thấp [10]. Chính vì thế, để có được phân bón được kiểm soát tốt hơn, hydrogel chứa phân bón đang là một trong những xu hướng nghiên cứu hiện nay do khả năng giữ nước (độ trương nở) do đó làm tăng khả giữ ẩm cho đất, giảm tần suất tưới tiêu, tăng khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng cho cây trồng [11]. Vấn đề này, đã được tác giả Hendrawan đưa ra trong đề tài phát triển hydrogel tổng hợp polymer nạp phân bón để cung cấp nước và chất dinh dưỡng [12].2 Khái niệm phân nhả chậm trên nền hydrogel (SRHF-Slow Release fertiliser hydrogels) 1. Khái niệm về hydrogel Hydrogel là một mạng polyme trương nở trong nước và liên kết ngang được tạo ra bởi phản ứng đơn giản của một hoặc nhiều monome.
Là vật liệu có khả năng trương nở và giữ một lượng nước đáng kể trong cấu trúc của nó nhưng sẽ không hòa tan trong nước. Khả năng hấp thụ nước của hydrogel từ các nhóm chức ưa nước gắn vào khung polyme mạng như - OH, - CONH, -CONH2 và -SO3H, trong khi khả năng không hòa tan trong nước là từ các liên kết ngang giữa các chuỗi [13]. Phân loại Hydrogel có thể được phân loại dựa theo các yếu tố như theo nguồn gốc, thành phần hoặc dựa trên các kiểu liên kết ngang. 5 Theo nguồn gốc: các hydrogel có thể phân thành hai nhóm dựa trên nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp.
- Các polyme tự nhiên tạo hydrogel bao gồm các protein như collagen và gelatine và các polysacaride như tinh bột, alginate và agarose. - Các polyme tổng hợp tạo thành hydrogel thường được điều chế bằng phương pháp trùng hợp hóa học. Phân loại theo thành phần polyme - Hydrogel đồng nhất: là mạng lưới polyme có nguồn gốc từ 1 loại monome duy nhất. - Hydrogel copolyme bao gồm hai hoặc nhiều loại monome khác nhau với ít nhất một thành phần ưa nước.
- Hydrogel polyme xen kẽ đa polyme (IPN) một loại hydrogel quan trọng, được tạo thành từ hai thành phần polyme tổng hợp hoặc tự nhiên liên kết một cách độc lập. Hydrogel polymer bán xen kẽ (Semi - IPN) một thành phần là polyme liên kết ngang và thành phần còn lại là polyme không liên kết ngang [14]. Theo các kiểu liên kết ngang: hydrogel được chia thành hai loại là liên kết ngang vật lý hoặc hóa học. Mạng liên kết hóa học có các mối nối cố định, trong khi mạng vật lý có các mối nối tạm thời phát sinh từ các tương tác vật lý như tương tác ion, liên kết hydro hoặc các tương tác kỵ nước.
Ngoài ra, hydrogel còn được phân loại dựa trên điện tích tạo thành như cation, anion và trung tính. Dựa vào cấu trúc tinh thể, hydrogel tinh thể, bán tinh thể và vô định hình. Các phương pháp tổng hợp hydrogel Sự hình thành hydrogel liên quan đến quá trình liên kết ngang của chuỗi polyme. Quá trình này được gọi là gel hóa.