Chương I. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG PHUN XĂNG TRÊN Ô TÔ 1. Lịch sử phát triển của hệ thống phun xăng điện tử trên ô tô. Vào thế kỷ XIX, một kỹ sư người Mỹ (ông Stevan) đã nghĩ ra cách phun nhiên liệu cho một máy khí nén.
Sau đó một thời gian, một người Đức đã cho phun nhiên liệu vào buồng cháy nhưng không mang lại hiệu quả. Đầu thế kỷ 20, người Đức đã cho phun nhiên liệu trong động cơ 4 kỳ tĩnh tại (nhiên liệu dùng trên động cơ này là dầu hỏa nên hay bị kích nổ và hiệu quả thấp). Tuy nhiên, sau đó sáng kiến này đã được ứng dụng thành công trong việc chế tạo hệ thống cung cấp nhiên liệu cho máy bay ở Đức. Đến năm 1966, hãng BOSCH đã thành công trong việc chế tạo hệ thống phun xăng kiểu cơ khí.
Trong hệ thống phun xăng này nhiên liệu được phun trực tiếp vào trước xupap nạp nên có tên gọi là K- Jetronic (K – Konstan - liên tục, Jetronic- phun). K-Jetronic được đưa vào sản xuất và ứng dụng trên các xe của hãng Mercedes và một số xe khác, là nền tảng cho việc phát triển hệ thống phun xăng thế hệ sau như KE-Jetronic, Mono- Jetronic, L-Jetronic, Motronic… Do hệ thống phun xăng cơ khí còn nhiều nhược điểm nên đầu những năm 80, BOSCH đã cho ra đời hệ thống phun xăng sử dụng vòi phun điều khiển bằng điện. Có hai loại: hệ thống L- Jetronic (lượng nhiên liệu được xác định nhờ cảm biến đo lưu lượng khí nạp) và D-Jetronic (lượng nhiên liệu được xác định dựa vào áp suất trên đường ống nạp). Đến năm 1984, người Nhật (mua bản quyền của BOSCH) đã ứng dụng hệ thống phun xăng L-Jetronic và D-Jetronic trên các xe của hãng Toyota (dùng với động cơ 4A-ELU).
Đến những năm 1987, hãng Nissan dùng L-Jetronic thay bộ chế hòa khí của xe Nissan Sunny. [1] Việc điều khiển hệ thống phun xăng có thể được chia làm hai loại, dựa trên sự khác nhau về phương pháp dùng để xác định lượng nhiên liệu phun. 9 Một là loại mạch tương tự, loại này điều kiển lượng phun dựa vào thời gian cần thiết để nạp và phóng một tụ điện. Loại khác là loại điều khiển bằng vi xử lý, loại này sử dụng lần đầu tiên trong hệ thống ECU của nó.
Loại điều khiển bằng vi xử lý được bắt đầu sử dụng vào năm 1983. Loại hệ thống EFI điều khiển bằng bộ vi xử lý được sử dụng trong xe của TOYOTA gọi là TCCS (TOYOTA Computer Controled System - Hệ thống điều khiển bằng máy tính của TOYOTA), nó không chỉ điều khiển lượng phun mà còn bao gồm ESA (Electronic Spark Advance - Đánh lửa sớm điện tử) để điều khiển thời điểm đánh lửa; ISC (Idle Speed Control- Điều khiển tốc độ không tải) và các hệ thống điều khiển khác cũng như chức năng chuẩn đoán và dự phòng. Phân loại hệ thống phun xăng trên ô tô 1. Phân loại theo điểm phun a.
Hệ thống phun xăng đơn điểm: Vòi phun đặt ở cổ ống góp nạp chung cho toàn bộ các xilanh của động cơ, bên trên bướm ga. [2] Tuy nhiên, hệ thống này chỉ phù hợp với xe nhỏ, tải trọng thấp do hệ thống chỉ phun một lần với số lượng lớn nên nhiên liệu hòa trộn không đồng đều. Hệ thống phun xăng đa điểm: Tại hệ thống phun xăng điện tử đa điểm, mỗi xi lanh được trang bị một vòi phun riêng biệt ở trước xupap, giúp nhiên liệu được hút triệt để vào xi lanh. Khi vận hành, hệ thống vòi phun nhận tín hiệu thông tin từ góc quay trục khủy, sau đó xác định thời điểm chính xác cần phun.
Sự đồng bộ này giúp hệ thống phun xăng MPI đạt được tỷ lệ nhiên liệu cần thiết để bơm cho động cơ. [2] Hệ thống phun xăng đa điểm cũng loại bỏ được hiện tượng nhiên liệu ngưng tụ trong đường ống nạp ở các hệ thống khác. Do đó, hệ thống này được các hãng sản xuất ô tô ưu ái sử dụng trong nhiều mẫu xe hiện đại. 1: Sơ đồ hệ thống phun xăng đa điểm 1.
Phân loại theo phương pháp điều khiển vòi phun a. Loại CIS (continuous injection system): Đây là hệ thống phun xăng sử dụng vòi phun cơ khí, chỉ sử dụng trên một số động cơ, bộ phun mở liên tục, sự thay đổi áp suất đối với nhiên liệu sẽ làm thay đổi lượng nhiên liệu được phun. Gồm ba loại cơ bản sau: Hệ thống K-Jectronic: Việc phun được điều khiển hoàn toàn bằng cơ khí. Hệ thống K-Jectronic có cảm biến khí thải: Có thêm cảm biến oxy.
2: Hệ thống phun xăng K–Jectronic Hệ thống KE-Jectronic: Hệ thống K-Jetronic với mạch điều chỉnh áp lực phun bằng điện tử. Hệ thống KE-Motronic: Kết hợp với điều khiển đánh lửa bằng điện tử. Loại AFC (Air flow controlled fuel injection): Đây là hệ thống phun xăng sử dụng vòi phun điều khiển bằng điện tử. Hệ thống phun xăng với vòi phun điện có thể chia làm 2 loại chính: L-Jetronic (xuất phát từ chữ Luft trong tiếng Đức là không khí): là hệ thống phun xăng đa điểm điều khiển bằng điện tử.
Xăng được phun vào cửa nạp của các xylanh động cơ theo từng lúc chứ không phun liên tục. Quá trình phun xăng và định lượng nhiên liệu được thực hiện theo hai tín hiệu gốc: tín hiệu về khối lượng lượng không khí nạp vào và tín hiệu tốc độ trục khuỷu của động cơ. Chức năng của L-Jetronic là cung cấp cho từng xylanh động cơ một lượng xăng đáp ứng nhiều chế độ tải khác nhau của động cơ. Một hệ thống các bộ cảm biến ghi nhận thông tin về chế độ làm việc của ô tô, về tình trạng thực tế của động cơ, chuyển đổi các thông tin này thành tín hiệu điện.
ECT sẽ xử lý, phân tích các 12 thông tin nhận được và tính toán chính xác lượng xăng cần phun ra. Lưu lượng xăng phun ra được xác định thông qua thời gian mở vòi phun. 3: Hệ thống phun xăng L-Jectronic D-Jectronic: Với lượng xăng phun ra được xác định bởi áp suất chân không sau bướm ga bằng cảm biến MAP (Manifold air pressure). Phân loại theo cách thức điều khiển vòi phun a.
Phun gián đoạn: Vòi phun được mở gián đoạn, độ rộng vòi phun được điều khiển từ ECU phù hợp với cường độ làm việc của động cơ. Đóng mở vòi phun một cách độc lập, không phụ thuộc vào xupáp. Loại này phun xăng vào động cơ khi các xupáp mở ra hay đóng lại. Hệ thống phun xăng gián đoạn còn có tên là hệ thống phun xăng biến điệu.
Phun liên tục: Trong phương pháp này vòi phun được mở liên tục, lượng nhiên liệu phun được điều chỉnh thông qua việc thay đổi áp suất nhiên liệu. Tỉ lệ hòa khí được điều khiển bằng sự thay đổi áp suất nhiên liệu tại các vòi phun. Do đó lưu lượng nhiên liệu phun ra cũng được thay đổi theo. Phân loại theo mối quan hệ giữa các vòi phun a.
Phun theo nhóm đơn: Hệ thống này, các vòi phun được chia thành 2 13 nhóm bằng nhau và phun luân phiên. Mỗi nhóm phun mộtlần ứng với một vòng quay trục khuỷu. Phun đồng loạt: Hệ thống này, các vòi phun đều phun đồng loạt vào mỗi vòng quay trục khuỷu. Các vòi được mắc song song với nhau do đó có tín hiệu từ ECU các vòi và phun đều đóng mở cùng lúc.
Phun theo thứ tự: Trong hệ thống này,các vòi phun được điều khiển độc lập, mỗi vòi phun sẽ đóng mở các vòi phun theo đúng thứ tự của các xylanh, mở một lần/quy trình. Sơ đồ nguyên lý cơ bản của hệ thống phun xăng Hình 1. 4: Sơ đồ nguyên lý cơ bản của hệ thống phun xăng Khi khoá điện mở các cảm biến sẽ thu thập các thông số của động cơ gửi về bộ điều khiển trung tâm (ECU), trong đó có hai thông số cơ bản là lưu lượng khínạp và tốc độ động cơ. ECU kết hợp hai thông số này với các thông số khá c, xử lý, so sánh với chương trình đã lập trình sẵn, rồi điều chỉnh tín hiệu phun xăng cho phù hợp và gửi tín hiệu này tới vòi phun nhiên liệu.
Đồng thời khi đó bơm xăng cũng hoạt động tạo ra áp suất tại dàn phân phối. Khi vòi phun nhận 14 được tín hiệu phun xăng và mở ra, xăng có áp suất cao sẽ được phun vào đường nạp kết hợp với không khí do động cơ hút vào tạo thành hỗn hợp cung cấp cho động cơ. Hỗn hợp này do ECU, một số chi tiết khác như van khí phụ, công tác nhiệt thời gian,… điều chính sao cho tối ưu nhất với từng chế độ làm việc của động cơ.[4] 15 Chương II. HỆ THỐNG PHUN XĂNG ĐIỆN TỬ EFI TRÊN XE MITSUBISHI PAJERO SPORT 2022 2.
Giới thiệu chung 2. Giới thiệu chung về xe mitsubishi pajero sport 2022. 1: Xe mitsubishi pajero sport 2022 V6 Mitsubishi Pajero Sport được phân phối dưới dạng nhập khẩu nguyên chiếc. Trong đó, phiên bản Pajero Sport máy xăng 4×4 AT là một trong 2 biến thể cao cấp nhất đang được chào bán.
Mitsubishi Pajero Sport mang trong mình những đường nét quen thuộc của ngôn ngữ thiết kế Dynamic Shield đặc trưng – cứng cáp, mạnh mẽ nhưng không hề thô ráp. Xe có kích thước tổng thể lần lượt đạt 4,785 x 1,815 x 1,805 mm, dáng nhỏ hơn khi đặt cạnh các đối thủ như Ford Everest, Isuzu Mu-X hay Toyota Fortuner. Mitsubishi Pajero Sport máy xăng 4×4 AT cho thấy sự mạnh mẽ vượt trội ở hạng mục vận hành. Ngay cả những đoạn đường gồ ghề hay phức tạp cũng 16 hoàn toàn không thể làm khó sản phẩm này nhờ động cơ xăng 3.
Ngoài ra, khi kết hợp với hộp số 8 cấp hiện đại bậc nhất phân khúc, xe có khả năng tăng tốc mượt mà và giảm thiểu tối đa hiện tượng giật khi chuyển số. Theo công bố của nhà sản xuất thì mức tiêu hao nhiên liệu của xe lần lượt đạt là 10.84 Lít/100 km đường hỗn hợp, 14.13 Lít/100 km đường nội đô và đường ngoại thành là 8.93 Lít/100 km – những con số gây “sốc” nhưng không phải là vô lý đối với một chiếc SUV “nặng xác”, máy xăng dung tích đến 3. Động cơ V6 phun xăng điện tử – MIVEC dung tích 3. 2: Động cơ MIVEC của mitsubishi - Các thông số cơ bản: Thông số kỹ thuật của xe mitsubishi pajero sport 2022.
1: Thông số kỹ thuật xe mitsubishi pajero sport 2022. Đơn TT Thông số Ký hiệu Giá trị vị Dài x Rộng x 1 Kích thước tổng thể Cao mm 4825 x 1815 x 1835 LxWxH 2 Chiều dài cơ sở L mm 2800 3 Khoảng sáng gầm mm 218 Bán kính vòng 4 R m 5,6 quay Trọng lượng không 5 G0/Ga kg 1940/2710 tải/ đầy tải Khoảng sáng gầm 6 mm 160 xe Kiểu động cơ MIVEC 7 Dung tích cc 3.