LỜI MỞ ĐẦU Để bước đầu làm quen với công việc của một kĩ sư hóa chất là thiết kế thiết bị, một hệ thống thiết bị phục vụ một nhiệm vụ kỹ thuật trong sản suất, một sinh viên khoa Công nghệ Hóa học được nhận đồ án môn học “Quá trình và thiết bị Công nghệ Hóa học”. Việc làm đồ án là một công việc tốt giúp cho mỗi sinh viên từng bước tiếp cận với thực tiễn sau khi đã hoàn thành khối lượng kiến thức của giáo trình “Các quá trình, thiết bị trong Công nghệ hóa chất và thực phẩm”. Trên cơ sở lượng kiến thức đó và lượng kiến thức của môn học có liên quan, mỗi sinh viên sẽ thiết kế một thiết bị, một hệ thống thiết bị để thực hiện một nhiệm vụ kỹ thuật có giới hạn trong các quá trình công nghệ. Qua việc làm đồ án, mỗi sinh viên biết dùng tài liệu tham khảo trong tra cứu, vận dụng đúng những kiến thức, quy định trong thiết kế, tự nâng cao kỹ năng vận dụng, tính toán, trình bày nội dung bản thiết kế theo văn phong khoa học và nhìn nhận vấn đề một cách có hệ thống.
Đồng thời, đồ án này còn giúp sinh viên tổng hợp được kiến thức đã học ở các môn cơ sở. Trong đồ án này, nhiệm vụ cần hoàn thành là thiết kế hệ thống cô đặc 2 nồi, xuôi chiều, làm việc liên tục, thiết bị cô đặc phòng đốt ngoài, dùng để cô đặc dung dịch CaCl2, năng suất 5400kg/h, nồng độ đầu của dung dịch 5% khối lượng, nồng độ cuối của dung dịch 24% khối lượng, áp suất hơi đốt nồi 1 là 4at, áp suất hơi ngưng tụ là 0,2at. Xin chân thành cảm ơn cô Phan Thị Quyên đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu để em hoàn thành đồ án. Xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong bộ môn Công nghệ Hóa chất và thực phẩm đã tạo điều kiện cho em thực hiện đồ án này.
Trong quá trình làm đồ án, do hạn chế về tài liệu, kinh nghiệm thực tế nên em không thể tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót…Vì vậy em kính mong sự đóng góp nhiệt tình của quý thầy, cô và các bạn sinh viên để đồ án này được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn! 2 ĐỒ ÁN MÔN HỌC QUÁ TRÌNH VÀ THIẾT BỊ PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG 1. QUÁ TRÌNH CÔ ĐẶC. Quá trình cô đặc là quá trình làm tăng nồng độ của chất hòa tan (không hoặc khó bay hơi) trong dung môi bay hơi.
Đặc điểm của quá trình cô đặc là dung môi được tách ra khỏi dung dịch ở dạng hơi, còn chất hòa tan trong dung dịch không bay hơi do đó nồng độ của dung chất sẽ tăng lên. Hơi của dung môi được tách ra trong quá trình cô đặc gọi là hơi thứ. Hơi thứ ở nhiệt độ cao có thể dùng để đun nóng một thiết bị khác. Nếu hơi thứ dùng để đun nóng một thiết bị khác ngoài hệ thống cô đặc thì gọi đó là hơi phụ.
Cô đặc nhiều nồi: Cô đặc nhiều nồi là quá trình sử dụng hơi thứ thay cho hơi đốt, do đó có ý nghĩa cao về mặt sử dụng nhiệt. Nguyên tắc của cô đặc nhiều nồi: nồi đầu dung dịch được đun nóng bằng hơi đốt, hơi thứ bốc lên ở nồi này được đưa vào làm hơi đốt của nồi thứ hai, hơi thứ của nồi thứ hai sẽ được đưa vào làm hơi đốt cho nồi thứ ba,…hơi thứ ở nồi cuối trong hệ thống được đưa vào thiết bị ngưng tụ. Dung dịch đi vào lần lượt từ nồi trước đến nồi sau, qua mỗi nồi nồng độ của dung dịch tăng dần lên do dung môi bốc hơi một phần. Hệ thống cô đặc nhiều nồi được sử dụng khá phổ biến trong thực tế sản xuất.
Ưu điểm nổi bật của loại này là dung dịch tự di chuyển từ nồi trước ra nồi sau nhờ chênh lệch áp suất giữa các nồi. Nhược điểm của nó là nhiệt độ của nồi sau thấp hơn nhưng nồng độ lại cao hơn so với nồng độ nồi trước nên độ nhớt của dung dịch tăng dần dẫn đến hệ số truyền nhiệt của hệ thống giảm từ nồi đầu đến nồi cuối. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHẤT CẦN CÔ ĐẶC (CaCl2): 1. Tính chất vật lí của CaCl2.
Danh pháp IUPAC: calcium choride. Ngoài ra còn có tên gọi khác như: canxi clorua, canxi (II) clorua, canxi điclorua, F509. Thuộc tính: - Dạng CaCl2: + Phân tử gam: 119,99 g/mol. + Bề ngoài: rắn trắng không màu.
3 ĐỒ ÁN MÔN HỌC QUÁ TRÌNH VÀ THIẾT BỊ + Tỷ trọng: 2,15 g/cm3. + Độ hòa tan trong nước: 74,5 g/100ml (200C) + Điểm nóng chảy: 772 0C - Dạng CaCl2. + Phân tử gam: 147,02 g/mol. + Bề ngoài: rắn trắng không màu.
+ Tỷ trọng: 0,835 g/cm3. + Độ hòa tan trong nước: 74,5 g/100ml (200C) - Dạng CaCl2. + Phân tử gam: 219,08 g/mol. + Bề ngoài: rắn trắng không màu.
+ Tỷ trọng: 1,71 g/cm3. + Độ hòa tan trong nước: 74,5 g/100ml (200C) Canxi clorua (CaCl2) là hợp chất ion của canxi và clo. Chất này tan nhiều trong nước. Tại nhiệt độ phòng, nó là chất rắn, chất này có thể sản xuất từ đá vôi nhưng đối với việc sản xuất sản lượng lớn thì người ta tạo nó như là một sản phẩm phụ của công nghệ Solvay.
Do nó có tính hút ẩm cao, người ta phải chứa muối này trong các dụng cụ đậy nắp kín. Tính chất hóa học của canxi clorua Canxi clorua có thể phục vụ như là nguồn cung cấp ion canxi trong dung dịch, chẳng hạn để kết tủa do nhiều hợp chất của canxi là không hòa tan trong nước: 3 CaCl2 (lỏng) + 2 K3PO4 (lỏng) → Ca3(PO4)2 (rắn) + 6 KCl (lỏng) CaCl2 nóng chảy có thể điện phân để tạo ra canxi kim loại: CaCl2 (lỏng) → Ca (rắn) + Cl2 (khí) 1. Công dụng của canxi clorua: 4 ĐỒ ÁN MÔN HỌC QUÁ TRÌNH VÀ THIẾT BỊ Trong công nghiệp: Hàng triệu tấn canxi clorua được sản xuất mỗi năm, chẳng hạn tại Bắc Mỹ, lượng tiêu thụ năm 2002 là 1. Các cơ sở sản xuất của công ty hóa chất Dow tại Michigan chiếm khoảng 35% tổng sản lượng tại Hoa Kì về canxi clorua, và nó có nhiều ứng dụng công nghiệp khác nhau: Do đặc tính hút ẩm mạnh của nó nên không khí hay các loại khí khác có thể cho đi qua các ống chứa canxi clorua để loại bỏ hơi ẩm.
Cụ thể, canxi clorua thông thường được sử dụng để cho vào các ống làm khô để loại bỏ hơi ẩm trong không khí trong khi vẫn cho khí đi qua. Nó cũng có thể cho vào dung dịch lỏng nào đó để loại bỏ nước trộn lẫn hay lơ lửng. Quá trình hấp thụ nước là sinh nhiệt và nhanh chóng tạo ra nhiệt độ tới khoảng 60 0C (1400F). Vì khả năng này, nó được biết đến như là tác nhân sấy khô hay chất hút ẩm.
Do lượng nhiệt tỏa ra lớn trong quá trình hòa tan của nó, canxi clorua cũng được sử dụng như là hợp chất làm tan băng. Không giống như natri clorua (muối đá hay halit) phổ biến hơn, nó là tương đối vô hại cho các loại cây trồng và đất, tuy nhiên, các quan sát gần đây tại bang Washington lại cho rằng nó có thể gây hại cho các cây thường xanh ở hai bên đường. Nó cũng có hiệu lực hơn natri clorua ở các nhiệt độ thấp. Khi được phân phối cho mục đích này, nó thường được sản xuất dưới dạng các viên nhỏ màu trắng, đường kính vài milimet.
Sử dụng tính chất hút ẩm của nó, người ta có thể dùng nó để giữ một lớp chất lỏng trên mặt đường nhằm thu hút hết bụi. Nó cũng được sử dụng trong phối trộn bê tông nhằm tăng nhanh quá trình ổn định ban đầu của bê tông, tuy nhiên ion clorua lại dẫn tới sự ăn mòn của các thanh gia cố bằng thép, vì thế không nên sử dụng nó trong bê tông chịu lực. Canxi clorua lỏng (trong dung dịch với nước) có điểm đóng băng thấp tới -520C ( -620F), làm cho nó là lí tưởng để nhồi đầy các lốp không săm bổ sung như là các đồ dằn lỏng, hỗ trợ cho sức kéo trong điều kiện khí hậu lạnh. Các ứng dụng công nghiệp khác bao gồm sử dụng như là phụ gia trong hóa dẻo, hỗ trợ tiêu nước trong xử lí nước thải, chất bổ sung trong các thiết bị dập lửa bình cứu hỏa, phụ gia trong kiểm soát tạo xỉ trong các lò cao, cũng như làm chất pha loãng trong các loại thuốc làm mềm vải.
5 ĐỒ ÁN MÔN HỌC QUÁ TRÌNH VÀ THIẾT BỊ Trong phòng thí nghiệm. Như là một thành phần, nó được liệt kê như là phụ gia thực phẩm được phép sử dụng tại Liên minh châu Âu để làm phụ gia cô lập và chất làm chắc với số E la E509. Dạng khan đã được FDA phê chuẩn như là phụ gia hỗ trợ đóng gói để đảm bảo độ khô (CPG 7112. Canxi clorua được sử dụng phổ biến như là chất điện giải và có vị cực mặn, được tìm thấy trong các loại đồ uống dành cho những người tập luyện thể thao và các dạng đồ uống khác, như Smartwater và nước đóng chai của Nestle.
Nó cũng có thể sử dụng như là phụ gia bảo quản để duy trì độ chắc trong rau quả đóng hộp hoặc ở hàm lượng cao hơn trong các loại rau dưa muối để tạo ra vị mặn trong khi không làm tăng hàm lượng canxi của thực phẩm. Nó cũng có thể dùng để chế biến các đồ thay thế cho trứng cá muối từ nước hoa quả hay bổ sung vào sữa đã chế biến để phục hồi sự cân bằng tự nhiên giữa canxi và protein trong các mục đích sản xuất pho mát, như các dạng brie và stilton. Tính chất tỏa nhiệt của canxi clorua được khai thác trong nhiều loại thực phẩm ‘tự tỏa nhiệt’ trong đó nó được hoạt hóa (trộn lẫn) với nước để bắt đầu quá trình sinh nhiệt, cung cấp một loại nhiên liệu khô, không nổ, dễ dàng kích hoạt. Trong ủ bia (đặc biệt là ale và bia trắng), canxi clorua đôi khi được sử dụng để điều chỉnh sự thiếu hụt chất khoáng trong nước ủ bia (canxi là đặc biệt quan trọng cho chức năng của enzim trong quá trình ngâm, cho quá trình đông kết lại của protein trong hầm ủ và trao đổi chất của men bia) và bổ sung độ cứng vĩnh cửu nhất định cho nước.
Các ion clorua gia tăng hương vị và tạo cảm giác ngọt và hương vị đầy đủ hơn, trong khi các ion sulphat trong thạch cao cũng được sử dụng để bổ sung ion canxi vào nước ủ bia, có xu hướng tạo ra hương vị khô và mát hơn, với độ đắng cao hơn.